Danh Mục Chính 
 CÁC MẪU ĐƠN 

  Mẫu Xin Cầu An
  Mẫu Xin Cầu Siêu
  Mẫu Ký Tự Hương Linh
  Mẫu Xin Quy Y Tam Bảo
  Ghi Danh Học Tiếng Việt

10 Nhạc Phẩm Mới Nhất
Mùa Xuân Em Đi Lễ Chùa
Xin Cho Em Mùa Xuân
Xin Chúc Mừng Xuân
Xuân Bốn Mùa
Xuân Còn Mãi Nhân Gian
Bảo Lụt Tại Queensland
Bảo Lụt Tại Queensland
Người Con Đức Phật
Hình Bóng Thầy
Hạnh Nguyện Cưu Mang
 CÂU HỎI PHẬT PHÁP 
Đức Phật nói Kinh gì cuối cùng ?

 Kinh Bát Nhã
 Kinh Di Giáo
 Kinh Phạm Võng
 Kinh Di Đà



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời 297
 Thành viên có mặt 
 Khách: 004
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 004
 Hits 048324920
 Kho Lưu Bài Viết 
Tháng Ba 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
 TÌM KIẾM (SEARCH) 
 
Tin tức » Phật Giáo và Thời Đại » Phật Giáo và Giáo Dục 23.03.2017 21:31
Sự Đóng góp của Ni Chúng trong sứ mệnh Hoằng Pháp
[24.09.2008 09:12] - Thích nữ Tịnh Quang

Xem hình
...chúng con nghĩ rằng rất cần thiết để tăng ni được huấn luyện với chương trình tương đương với các tôn giáo bạn để họ có thể tu tập và hướng dẫn Phật tử một cách hữu hiệu. Để đạt đến trình độ này, điều thiết yếu chúng con đề nghị nơi đây là một cơ sở để đào tạo Ni chúng có trình độ trung cấp Phật học và tốt nghiệp Trung Học. Sau đó, ni chúng sẽ học các trường Đại Học theo phân khoa phù hợp với khả năng và ước nguyện...


Sự Đóng góp của Ni Chúng trong sứ mệnh Hoằng Pháp

(Bài thuyết trình trong Khoáng Đại III, Đại hội Thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ tổ chức ngày 20 & 21/9/2008)

Sau năm 1975, sự thay đổi chế độ chính trị khiến một số đông người Việt đã rời quê hương để định cư ở nước ngoài. Vì nhu cầu tâm linh nhiều chùa đã được lập nên do chư tăng ni phần lớn cũng thuộc thành phần tị nạn Cộng sản hoặc một số ít đã có mặt tại Mỹ quốc trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt tại Việt Nam. Riêng phần ni giới cũng có các chùa do các Ni theo hệ phái Bắc Tông và các tịnh xá do chư Ni của phái Khất Sĩ thành lập để giúp đồng bào Phật tử có nơi nương tựa tinh thần.

Đầu năm 2008, với sự thành lập của Cộng Đồng Phật Giáo Tăng Ni Hải ngoại, Ni chúng được quý Hòa Thượng và Thượng Tọa kêu gọi tham dự và hôm nay, bài thuyết trình này được sự yêu cầu và gợi ý của quý ngài để đóng góp vào chương trình của Đại Hội Thành Lập Cộng Đồng Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ. Bài thuyết trình này được viết với sự góp ý của một số ni chúng và nhân sĩ thao thức với sự phát triển của Ni Đoàn tại Hoa Kỳ và với mục đích gióng lên một tiếng chuông kêu gọi sự kết hợp, vạch một hướng đi để tìm những người đồng chí hướng, có ước nguyện góp phần xây dựng Ni Đoàn ngày càng thêm mạnh để tiến tu và có thể đóng góp tích cực trong công việc hoằng pháp của Cộng Đồng Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại.

Trong bài thuyết trình này, trước hết chúng con sẽ nêu các gương sáng của Chư Ni tiền bối trong thời cận đại với sự nghiệp hoằng pháp, giáo dục, từ thiện, và độ chúng để làm đài gương sáng cho đàn hậu bối ni noi theo. Tiếp đến chúng con sẽ kiểm điểm lại tình trạng và lực lượng Ni chúng tại Hoa Kỳ. Và sau hết chúng con xin bàn đến các chương trình mà chư Ni đã và sẽ tham gia đóng góp bắt đầu là chương trình học vấn cho chư Ni, sau đến là các chương trình hoằng pháp gồm diễn giảng, từ thiện – xã hội, giáo dục lớp trẻ, và văn học nghệ thuật. Trong phần kết luận, chúng con sẽ đề cập đến sự thiết yếu trong việc đào tạo chư Ni có học thức về cả hai mặt thế học và Phật học để chư Ni có thể góp sức hữu hiệu trong chương trình hoằng pháp của Cộng Đồng Phật Giáo Tăng Ni Hải Ngoại đề ra cũng như hoàn tất sự tu chứng của mỗi ni chúng.

Trước tiên, chúng con xin giới thiệu công hạnh của chư vị Sư Trưởng và Ni Trưởng đã thao thức trong vấn đề mở trường lớp để Ni chúng được học hỏi giáo lý của Đức Phật ngõ hầu làm hành trang cho sự tu hành của tự thân và sau này truyền trao kiến thức cho lớp đàn em của mình. Chư Ni hậu bối xin thành kính tri ân chư Ni tiền bối đã nắm bắt cơ hội trong thời kỳ Chấn Hưng Phật Giáo tại Việt Nam. Khi Chư tôn Hòa Thượng khai trường Phật học cho Tăng Ni vào thập niên 1930 thì trường học cho Ni cũng được thành lập trong cùng thời gian. Trường học cho Ni được thành lập đầu tiên ở Nam phần năm 1927, tại chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu, sáng lập bởi Ni Sư Diệu Nga với hàng trăm học ni. Mặc dầu chỉ là một trường hạ và trường gia giáo tức là chương trình học của chư ni được một hay hai vị tăng lớn như Hòa Thượng Chí Thiền, Hòa Thượng Khánh Anh[1], v.v., đảm trách như học tại gia chứ không phân chia thứ lớp như các trường sơ cấp hoặc trung cấp như hiện nay nhưng cũng đã là một cố gắng vượt bực so với tình hình học vấn của tăng ni thời bấy giờ và cho thấy sự cầu học của chư ni thời ấy. Từ trường hạ Giác Hoa đầu tiên mở đường cho một số trường hạ (thời ấy gọi là trường hương) và trường gia giáo ngắn hạn do quý Sư Trưởng như Sư Bà Diệu Tịnh cùng chư ni khác làm giáo thọ hoặc cùng tổ chức ví dụ như trường hương Giác Hoàng ở Bà Điểm, Thiên Bửu ở Lái Thiêu, và ba trường Giác Linh, Vạn An, và Linh Phước đều ở Sa Đéc; Tại Sa Đéc đã có chùa Kim Huê cũng là trường học cho tăng ni do Hòa Thượng Ngộ Thông – Chơn Truyền trụ trì và mở lớp dạy Kinh và Luật. Sau này Hòa Thượng giao số học ni gần 30 vị cho đệ tử là Sư Bà Như Hoa đảm trách mở lớp dạy ni tại chùa Phước Huệ cũng ở Sa Đéc. Ngoài ra tại Cần Thơ có Ni Học Đường tại chùa Bảo An do Sư Bà Hồng Tích – Diệu Kim trông coi và Ni học Đường Vĩnh Bửu tại Mỏ Cày Bến Tre do Sư Bà Hồng Huệ - Diệu Ninh trụ trì.[2] Mặc dù các trường hạ và gia giáo nêu trên đã hoạt động trong một thời gian ngắn nhưng sự có mặt đông đảo của các trường này đã cho thấy sự ưu tư và quan tâm lo lắng của chư Tăng Ni tiền bối đối với học vấn của Ni chúng và các trường này đã giúp đào tạo một thế hệ ni lãnh đạo Ni Bộ Bắc Tông sau này.

Những trường hạ và gia giáo ngắn hạn kể trên đã là nền tảng cho các Phật học Ni trường được thành lập từ thập niên 1940-1950 với thành phần ban giám học là chư ni đã học và tốt nghiệp tại những trường hạ và gia giáo đầu tiên ở Nam Việt. Chương trình học của các Phật Học Ni trường quy mô hơn và các Ni trường này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, đó là Ni Trường Tăng Già ở quận 4, Phật Học Ni Viện Huê Lâm ở quận 10, Phật Học Ni Viện Từ Nghiêm ở Chợ Lớn, và Phật Học Ni Viện Dược Sư ở Gia Định. Ni trường Tăng Già còn gọi là Ni Trường Kim Liên do quý Hòa Thượng sáng lập và sau giao lại cho các đệ tử ni còn được gọi là chư ni dòng họ Tịnh điều hành và phát triển. Ba Ni Trường Huê Lâm, Từ Nghiêm, và Dược Sư là ba cơ sở chính của Ni Bộ Nam Việt, một tổ chức được thành lập năm 1956 trụ sở đầu tiên đặt tại Huê Lâm và năm 1963 dời về Từ Nghiêm. Từ các Ni Trường này, Ni chúng được đào tạo từ sơ đẳng đến trung đẳng chuyên khoa với hai chương trình thế học và Phật học song song. Ni chúng tốt nghiệp các Ni trường có thể thi vào trường Đại Học Vạnh Hạnh[3] hay trường Cao Đẳng Huệ Nghiêm. Chư vị Sư Trưởng và Ni Trưởng sáng lập hoặc tham gia duy trì và phát triển ba Ni Trường gồm: Sư Trưởng Như Thanh, Sư Bà Hồng Huệ - Diệu Ninh, SB Như Huy, SB Như Chí, SB Như Trí, SB Như Châu, SB Huyền Huệ, SB Như Nhàn, SB Giác Nhẫn, SB Như Hoa, vv…

Bên cạnh Ni đoàn Bắc Tông còn có Ni Đoàn Khất Sĩ của giáo phái Minh Đăng Quang điển hình và nổi bật trong thập niên 1970 là Ni Trưởng Huỳnh Liên là một trong 10 đệ tử ni lớn của Ngài Minh Đăng Quang, người đã khai đạo cho môn phái của mình. Ni Trưởng đã thao thức để đào tạo một thế hệ ni có đức hạnh cũng như kiến thức Phật học và thế học để tiếp nối mạng mạch của Ni Đoàn Khất Sĩ và tiếp tay với Ni Đoàn Bắc Tông trong sứ mạng hoằng truyền giáo pháp của Đức Như Lai. Nhờ sự quen biết, và sự dẫn dắt của Ni Trưởng, ngày nay tại Việt Nam, tại trung tâm chính của Ni Đoàn Khất Sĩ là Tịnh Xá Giác Phương tại Sài Gòn, và những tịnh xá của chư Ni tiền bối của Ni Đoàn Khất Sĩ đã đào tạo được một số không nhỏ các ni tốt nghiệp các chương trình Phật học trong nước cũng như ngoài nước.

Song song với sự hoạt động rất khởi sắc của các Trường Hạ và trường gia giáo cho Ni chúng tại Nam Phần, tại miền Trung, năm 1932, quý ngài Hòa Thượng Tịnh Khiết và Giác Tiên đã phái cụ Ưng Bàng và Sư Bà Diệu Không mượn chùa Từ Đàm lập cơ sở cho Ni chúng Nam Bắc về tu học. Đó là Ni trường đầu tiên tại Trung Phần. Từ năm 1934 về sau, Ni viện càng ngày càng hưng thịnh, có lúc Ni chúng đông đến 100 vị theo học.[4] Và từ năm này, Ni viện được dời về chùa Diệu Đức, được xây dựng bởi Sư Bà Diệu Không và Ni trường là nơi đào tạo ni chúng lớp sơ đẳng và từ năm 1970 cho đến ngày nay đây là nơi ni chúng học các lớp sơ đẳng và trung đẳng[5]. Năm 1962, Sư Bà cùng chư tôn Hòa Thượng Trí Thủ, Thiện Minh, Huyền Quang và Trí Nghiêm thành lập Phật Học Ni Viện Nha Trang và sau này đổi thành Ni Trường Diệu Quang.[6] Ni trường Diệu Quang đào tạo chư ni với hai chương trình Phật học Sơ Đẳng và Trung Đẳng chuyên khoa. Ở miền Trung, ngoài Sư Bà Diệu Không, còn có Sư Bà Diệu Hương, SB Hướng Đạo, SB Thể Quán, SB Thể Thanh, SB Viên Minh, SB Huyền Học, vv… đã được đào tạo trong thời kỳ đầu tiên của cuộc chấn hưng và sau đó quý Sư Bà đã trở thành các giáo thọ cho lớp ni chúng hậu bối.

Tại Bắc Việt, vì số ni có cơ hội học Phật pháp ít nên, trong những thập niên 1930-1940, không có ni trường cho ni như ở Nam phần và Trung phần. Số chư ni ít ỏi này đã học chung với chư tăng tại các trường Phật học như tại chùa Vọng Cung, Cao Phong, Quán Sứ, Bà Đá, Bồ Đề,[7] hoặc vào miền Nam và miền Trung để theo học các Ni trường tổ chức tại các tỉnh. Mãi đến năm 1950, ni trường đầu tiên được thành lập tại Bắc Việt cho ni chúng là Ni Viện Vân Hồ do Ni Trưởng Đàm Soạn làm giám học và quản chúng. Năm 1928, Ni Trưởng đã vào miền Trung để chung sức với quý Sư Bà xây dựng chùa Diệu Viên. Năm 1952, Ni Trưởng vào Nam để cùng quý SB xây dựng Ni Trường Dược Sư. Ngoài Ni Trưởng Đàm Soạn, chư Ni miền Bắc đã ưu tư và tham gia trong việc giáo dục ni chúng là SB Đàm Đậu, SB Đàm Hữu, SB Đàm Tín, vv…

Sau khi xây dựng trường ốc và xếp đặt chương trình học cho chư Ni hậu học xong, chư Ni tiền bối điển hình như Sư Bà Diệu Không và SB Như Thanh đã quan tâm mở các trường thế học sơ cấp và trung cấp nhằm nâng cao dân trí, giúp đỡ các gia đình nghèo qua những trường miễn phí hoặc giảm học phí, và tạo cơ hội cho chư Ni có công việc làm đồng thời đóng góp thiết thực vào sự nghiệp độ sanh của mình. Để cải thiện đời sống các gia đình nghèo mà gánh nặng gia đình chồng chất lên đôi vai gầy của người phụ nữ sống trong hoàn cảnh chiến tranh, quý Sư Trưởng cũng đã mở những lớp huấn nghệ cho phụ nữ, những cuộc triển lãm tiểu công nghệ nhằm giới thiệu sản phẩm và khích lệ tinh thần của chị em bạn gái. Đối với trẻ em, quý SB cũng mở những ký nhi viện và cô nhi viện để chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần trong khi cha mẹ của các cháu đang bận rộn với công việc hoặc chẳng may cha mẹ các cháu mất sớm trong bối cảnh chiến tranh nhiều khi rất khốc liệt tại Việt Nam thời bấy giờ. Chư Ni tiêu biểu trong lãnh vực trên gồm quý SB đã nêu trên và SB Thể Quán, SB Thể Thanh, SB Cát Tường, SB Trí Hải, vv…đã và đang là gương sáng cho đệ tử của quý Ngài đang tiếp tục công việc và hạnh nguyện Bồ Tát của quý SB tại Việt Nam.

Trong lãnh vực văn học, nghệ thuật và trước tác, SB Diệu Không, SB Diệu Tịnh, SB Thể Quán, SB Như Thanh, và SB Huỳnh Liên đã đóng góp tích cực qua những nguyệt san Phật giáo như Viên Âm, Từ Bi Âm, Liên Hoa, Hoa Đàm, và Sen Hồng. SB Thể Quán còn viết rất nhiều những chuyện ngắn Phật giáo để tải đạo vào đời như Chiếc Áo Cũ Trên Đỉnh Hoa Sơn, Bóng Hạnh Phúc, Thiên Biến Vạn Hóa, Hoàng Y Lan, Tiếng Than Người Vợ Trẻ, vv…Trong khi SB Diệu Không, SB Như Thanh, và SB Huỳnh Liên dịch Kinh và Luận đồng thời làm thơ khuyến tu nhằm vào giới cư sĩ và phụ nữ để cổ động khuyến khích sự tu học để được thoát khổ và giải thoát. Số lượng tác phẩm của chư vị SB rất nhiều mà thời gian của bài thuyết pháp không cho phép chúng con nêu ra đây nhưng xin được ghi nhận là những tác phẩm của quý Ngài được ghi chép đầy đủ bởi môn đồ pháp quyến ở phần tiểu sử trong các quyển Kỷ Yếu Tang Lễ. Cuối cùng chúng con không thể không kể đến tài năng dịch thuật và số lượng dịch phẩm của SB Trí Hải đã đóng góp cho tủ sách Phật Học Việt Nam thêm phần phong phú và chư tăng ni cùng Phật tử nhờ đó được tiếp cận với những tác phẩm nổi tiếng về Phật học tại nước ngoài. Thật vậy, với chức vụ cuối cùng là Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Trưởng Ban Phiên Dịch Anh Ngữ, và Giảng Viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam, SB Trí Hải đã làm rạng danh Ni Giới Việt Nam với gần 100 tác phẩm và dịch phẩm[8].

Nhìn lại thành quả lớn lao của chư Ni tiền bối đã thành đạt được trong bối cảnh của Cuộc Chấn Hưng Phật Giáo tại Việt Nam, Ni chúng hôm nay hội họp nơi đây cùng nhau xét lại những gì chúng ta đã làm được tại hải ngoại và điển hình là tại Hoa Kỳ nơi chư ni số đông hơn các quốc gia khác. Cũng vậy, để có thể hiểu vấn đề một cách cụ thể, chúng ta sẽ thảo luận về tình hình Ni chúng tại California thay vì xét đến toàn diện nước Hoa Kỳ với 50 tiểu bang. Xét về mặt ưu điểm, chúng ta có thể kể đến một số chùa lớn do quý Sư Bà đã tốn nhiều công sức cùng với đồng bào Phật tử tạo dựng nên như Chùa Diệu Quang, Chùa Đức Viên, Chùa Dược Sư, Chùa An Lạc vv… Bên cạnh đó là những chùa và tịnh xá do quý Ni Sư và Sư Cô tạo dựng lên tuy nhỏ hơn nhưng cũng góp phần đáp ứng nhu cầu tâm linh của đồng bào Việt ly hương trong những dịp quan, hôn, tương tế và quan trọng hơn hết là học hỏi về Phật pháp ngõ hầu giải tỏa các áp lực trong đời sống hằng ngày, tìm an lạc và tiến tu đến sự giải thoát của luân hồi sanh tử. Bên cạnh những nghi lễ thường nhật hằng tuần và các đại lễ Phật giáo hằng năm như Phật Đản, Vu Lan, và lễ Vía Phật và Bồ Tát như Đức Phật A-Di-Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm và Địa Tạng, một vài chùa Ni cũng có những hoạt động từ thiện xã hội như giúp người nghèo, khuyết tật tại Việt Nam, đồng bào bị lũ lụt, cũng như biếu bữa ăn cho người vô gia cư tại địa phương của mình. Mặc dù hiếm hoi, nhưng tại hải ngoại chư ni cũng có những hoạt động văn hóa và nghệ thuật như nguyệt san Hoa Sen Trên Cát của Liên Hoa Ni Tự tại Las Vegas, các buổi họp ra mắt sách và thơ do Ni Sư Như Ngọc tổ chức tại thành phố Westminster, và buổi triển lãm tranh của các họa sĩ tại Thiền Viện Sùng Nghiêm do chư ni của Thiền Viện tổ chức đầu năm nay. Qua những sinh hoạt này, chư ni đã góp phần cổ động và phát huy văn hóa Việt Nam tại hải ngoại.

Tóm lại, Ni chúng tại Hoa Kỳ nói chung và tại California nói riêng có rất nhiều tiềm năng để phát triển và đóng góp hữu hiệu với chư Tăng trong công việc hoằng pháp mà Đức Phật khi thành lập Tăng đoàn và Ni đoàn đã xem hai đoàn thể này như Trưởng Nam và Trưởng Nữ của Ngài trong khi hai chúng cận sự nam và cận sự nữ như những thứ nam và thứ nữ của Ngài. Bởi thế Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni đã luôn tâm niệm rằng: “Hoằng pháp thị gia vụ” để cập nhật kiến thức cần thiết và sẵn sàng mang giáo lý của Đức Phật truyền trao cho chúng sanh. Trong quá khứ, Việt Nam chịu ảnh hưởng của tinh thần “trọng nam khinh nữ” của đạo Khổng ở Trung Hoa. Với tư duy này, học vấn của nữ giới không được chú trọng mà thậm chí còn bị ngăn cản và cấm đoán vì họ nghĩ rằng không cần thiết. Nữ giới luôn bị khép mình trong khuôn khổ của “Tam cương” và “Ngũ Thường” hay “Tam Tòng” và “Tứ Đức” khiến sinh hoạt của người phụ nữ bị gò bó và giới hạn không thể phát triển tiềm năng của mình. Thêm vào đó, khi xuất gia và thọ đại giới, ni giới thọ lãnh “Bát Kỉnh Pháp” mà nội dung cũng đặt chư ni tùng phục và nương nơi sự chỉ dạy của chư Tăng. Điều này rất tốt cho Ni đoàn trong khung cảnh một Tăng Đoàn hòa hợp, thanh tịnh, phát triển và hết lòng tạo cơ hội cho Ni Đòan phát triển. Nhưng trong những lúc Tăng Đoàn đang gặp khó khăn như hiện nay, Ni Đoàn phải tự mình gánh vác việc của mình, tạo cơ hội và trường sở để huấn luyện ni chúng. Chư ni không thể ngồi chờ sự sắp đặt của chư Tăng. Ngày nay, ở Việt Nam cũng như tại hải ngoại, do ảnh hưởng của trào lưu toàn cầu hóa, những luật lệ gò bó phụ nữ cũng thông thoáng rất nhiều; nhất là tại hải ngoại, phong trào “nữ quyền” và “nam nữ bình quyền” đã giải phóng người nữ và giúp họ có thể theo đuổi việc học và làm những nghề nghiệp mà họ ưa thích. Cũng như vậy, ni chúng cần phải mạnh dạn, cố gắng, và kiên nhẫn để tìm và đạt cho được một hướng đi cho mình.

Nói đến nữ tính, thông thường người nữ thường dễ tin tưởng vào một điều gì và khi tin rồi, họ tin sâu đậm hơn người nam. Họ cũng kiên trì và bền bỉ hơn nam giới. Trong khi phái nam để ý vào những vấn đề liên quan tầm vóc lớn có tính cách khái quát và có tính chất chuyên môn của các vấn đề; trái lại, phái nữ chú ý đến những chi tiết liên quan đến phạm vi nhỏ có tính cách địa phương và thường có ước muốn làm người khác vui lòng. Đây là sự khác biệt chính yếu khiến người nữ thường được đề cao trong vai trò đòi hỏi tính nhẫn nại và bao dung của người mẹ và người chị. Có lẽ vì lý do này mà khi bàn thảo về những công việc thích hợp với Ni chúng, Hòa Thượng Nhất Hạnh đã khẳng định “các ni cô không làm việc trong ngành trú trì, mà chỉ chuyên về mặt giáo dục, diễn giảng và xã hội.” Đặc biệt là các ngành giữ trẻ, điều dưỡng bịnh nhân và khoa sư phạm, Hòa Thượng Nhất Hạnh nghĩ rằng rất hợp với chư ni.[9] Thật vậy, qua quá trình hoạt động của chư Ni tiền bối, chúng ta thấy quý Ngài đã rất thành công trong lãnh vực mở trường trung và tiểu học Bồ Đề, cô nhi viện, ký nhi viện Kiều Đàm cùng các nhà thuốc từ thiện. Mặt khác, khi đưa ra dự kiến về các vai trò của tăng ni trong vấn đề hoằng pháp trong một bối cảnh xã hội hiện đại, Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ, với chức vụ Tổng Vụ Hoằng Pháp vào năm 1971, Ngài đã nghĩ rằng ni và tăng phải được huấn luyện giống nhau. Nghĩa là sau khi hoàn tất phần học căn bản tương đương với lớp 12 ở phần thế học và lớp trung cấp ở phần Phật học, tăng ni sinh sẽ sẵn sàng để được huấn luyện một trong những ngành chuyên môn của Phật giáo như trụ trì, giảng huấn, hoặc các ngành thế học khác[10] như kiến trúc, vi tính, trồng trọt, vv…

Như thế, chúng ta thấy ni chúng sau khi được huấn luyện với những ngành chuyên môn, sẽ đóng góp thiết thực cho xã hội trong nhiều lãnh vực khác nhau như: hướng dẫn sự tu học của Phật tử trong các ngôi chùa, giảng dạy tại các trường lớp về Phật học hoặc thế học cho tăng ni hoặc Phật tử, hoặc làm việc về các lãnh vực chuyên môn đã được đào tạo. Chúng ta nhận thấy rằng chư ni khi được huấn luyện tại hải ngoại có nhiều lợi điểm là họ thông thạo ngôn ngữ và văn hóa Tây phương và vì thế ngoài sự đóng góp nhất định đối với cộng đồng người Việt, chư ni sẽ là một Sứ giả của Như Lai đem Đạo Phật truyền bá đến người bản xứ qua những bài giảng, những hoạt động xã hội – từ thiện, các trường lớp dạy và nuôi trẻ em, vv… Một khía cạnh xã hội tân tiến mà chư ni có thể đóng góp đó là thăm viếng, an ủi các người già hoặc bệnh nhân tại các nhà dưỡng lão và các trại cải huấn của phụ nữ hay trẻ vị thành niên. Ở lãnh vực này, ni giới có Ni Sư Dharma Karuna (Thích Nữ Ân Từ) là đệ tử của Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân, hiện trụ trì Thiền Viện Phật Giáo Quốc Tế tại Los Angeles (International Buddhist Meditation Center) và giảng dạy tại trường Đại Học Đông Phương cũng do Cố Hòa Thượng Thiên Ân khai sáng từ thập niên 1970. Ni Sư Karuna và các đệ tử xuất gia đã và đang hoạt động rất tích cực trong việc mang ánh sáng Phật pháp đến các tù nhân cũng như cộng đồng người Mỹ và các Phật sự của Ni Sư và đệ tử tham gia đạt những thành quả rất tốt. Nhờ sự dịu dàng và lòng kiên nhẫn, chư ni có thể xoa dịu và giải tỏa những bức xúc và nội kết của những người đi lầm đường và có thể mang giáo pháp của Đức Phật đến với họ. Thật thế, đời sống tân tiến tại hải ngoại, nơi con người bị lôi cuốn trong cuộc chạy đua nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và vấn đề đạo đức không được quan tâm vì một lý do đơn giản là họ quá bận rộn với công việc và không nhận biết được đâu là mục đích của cuộc sống và vì lầm lẫn phương tiện với cứu cánh, con người sẽ bị đau khổ.

Có một vị Ni sư đã ví Tăng và Ni đoàn Phật Giáo như hai cái cánh của một con chim. Chim không thể bay với một cánh được. Nói một cách khác, Tăng Đoàn và Ni Đoàn phải được bảo vệ để được tồn tại và phát triển cùng với nhau. Có được sự phát triển như hiện nay, Ni giới Việt Nam đã thọ ơn lớn tư duy của Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ về chương trình tu học và huấn luyện của Tăng Ni. Để có được một thế hệ tăng ni có trình độ để sinh hoạt và trợ giúp đồng bào Phật tử trong xã hội tân tiến tại hải ngoại, chúng ta cần phải tạo phương tiện để chư tăng ni có thể cập nhật những kiến thức và trường lớp cần thiết cho việc làm của họ. Chúng ta đang may mắn được sống trong xã hội tân tiến có nền học vấn được đánh giá cao trong số những quốc gia tiên tiến trên thế giới, bởi thế chúng ta chỉ cần tạo điều kiện để chư tăng ni trẻ có được kiến thức căn bản về thế học và Phật học và sau đó họ sẽ tiếp tục học thêm để đào sâu và bồi dưỡng thêm vào nền tảng kiến thức Phật học căn bản của họ bằng cách theo học các trường đại học và hậu đại học tại Mỹ hoặc tại Âu châu.

Năm 2006, chúng con được hân hạnh thăm viếng trong hai tuần tại Phật Học Viện Hương Quang của Sư Bà Ngộ Nhân ở thành phố Jia-yi tại Đài Trung, Đài Loan. Chương trình học của Ni chúng trước đây là 5 năm nhưng gần đây được rút ngắn thành 4 năm. Có khoảng 30 ni chúng từ khắp nơi trên Đài Loan và các nước trong vùng Đông Nam Á đã xin học tại Ni Trường và chư ni đã ở lại đây trong suốt 4 năm học. Chương trình tu học gồm hai thời khóa tụng niệm hằng ngày, qua đường, và các lớp học Kinh, Luật, Luận, và sinh ngữ như Anh Văn và cổ ngữ như Sanskrit và Pali. Ngoài ra chư ni còn được học tán tụng theo truyền thống nghi lễ của Đài Loan. Các học ni luân phiên chia sẻ các công việc của Ni Trường như Hương Đăng, Tri Viên, cho đến trực nhật tại nhà bếp như thời chấp tác của mỗi người và khi đến giờ học thì tất cả ni chúng đều phải tham dự. Chư ni Đài Loan khi gia nhập Ni Trường thường đã tốt nghiệp Cử Nhân trong khi cũng có một vài ni vừa tốt nghiệp trung học và trung cấp Phật học cũng được nhận vào trường. Sau bốn năm huấn luyện, ni chúng có thể lãnh đạo một ngôi chùa hoặc làm các công việc trong lãnh vực hoằng pháp khác như chủ bút cho tờ nguyệt san của Ni Trường, dạy lớp Phật pháp cho Phật tử, mở thiền viện để dạy thiền cho Phật tử vv... Một số ni chúng của Sư Bà đã tốt nghiệp các trường đại học ở nước ngoài và hiện đang dạy tại đó hoặc về lại Đài Loan để dạy tại các trường đại học.

Để kết thúc bài thuyết trình này, chúng con xin được nêu lên một ý kiến nữa về đường hướng hoạt động của chư ni đã được Pháp Sư Từ Dung phát biểu tại Hội Nghị Quốc Tế Phật Quang Sơn tại Đài Loan. Nội dung bài thuyết trình của Pháp Sư quy tụ bốn điểm chính, đó là: 1) Lưỡng tính bình đẳng hóa 2) Phát triển sự nghiệp hóa 3)Giáo đoàn tổ chức hóa 4) Giáo dục phổ cập hóa. Trong lưỡng tính bình đẳng hóa, Pháp Sư hy vọng rằng Tỳ Kheo Ni trong tương lai sẽ đươc sự kính trọng của mọi người và sự kính trọng này do tự thân của Tỳ Kheo Ni phải phấn đấu bằng cách nâng cao nhân cách đạo đức của mình qua sự tu chứng và sự đảm nhiệm hữu hiệu các công cuộc hoằng pháp ích nước lợi dân như thuyết giảng Phật pháp và cứu tế kẻ cơ hàn. Về phần phát triển sự nghiệp, Pháp Sư nhận thấy Ni chúng đã thành công trong việc kiến tạo chùa chiền, bởi vậy Ngài yêu cầu Tỳ Kheo Ni cần noi gương Tỳ Kheo trong các lãnh vực hoằng pháp khác như diễn giảng, giáo dục, và văn hóa. Đề nghị về tổ chức giáo đoàn, Pháp Sư nghĩ rằng hai chúng, Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, có thể tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau thì tổ chức Tăng Đoàn sẽ vững mạnh. Lấy tổ chức Tăng Đoàn tại Phật Quang Sơn làm ví dụ, Pháp Sư cho biết tại Phật Quang Sơn có đặt ra các cấp bậc cho sự nghiệp học vấn, sự tu chứng, và sự hành đạo để áp dụng cho Tăng Ni chúng. Bởi thế tăng và ni chúng cứ theo trình độ của mình mà nổ lực tiến tu và do đó tạo được sự hòa hợp trong tăng đoàn. Cuối cùng, Pháp Sư cũng đồng ý rằng người nữ nói chung với tính tình cần mẫn, thuần hậu và từ bi là những nhân tố tốt nhất cho các công tác giáo dục như giảng dạy và trước tác. Ngài cũng hết sức đề cao vai trò giáo dục của Phật giáo trong xã hội hiện đại ngày nay và yêu cầu Ni chúng cần quan tâm nổ lực để tạo hướng đi cho mình và giúp đỡ chúng sanh. [11]

Qua sự trình bày về hoạt động của Ni giới tại California, chúng ta nhận thấy rằng mặc dù hoạt động của Ni giới có tính cách bộc phát và riêng rẽ nhưng nhờ đó những tiềm năng khác nhau của Ni đã được biểu hiện. Hơn ba mươi năm đã qua sau khi làn sóng người Việt tị nạn đến định cư tại đây, các nhu cầu tâm linh bức thiết đã được tạm đáp ứng bởi những sự cố gắng trong nỗ lực hoằng pháp của chư tôn Hòa Thượng, Thương Tọa, Đại Đức Tăng Ni. Trong những năm tới đây, Tăng Ni chúng sẽ sinh hoạt với thế hệ trẻ Việt Mỹ được sinh ra và trưởng thành tại đây, chúng con nghĩ rằng rất cần thiết để tăng ni được huấn luyện với chương trình tương đương với các tôn giáo bạn để họ có thể tu tập và hướng dẫn Phật tử một cách hữu hiệu. Để đạt đến trình độ này, điều thiết yếu chúng con đề nghị nơi đây là một cơ sở để đào tạo Ni chúng có trình độ trung cấp Phật học và tốt nghiệp Trung Học. Sau đó, ni chúng sẽ học các trường Đại Học theo phân khoa phù hợp với khả năng và ước nguyện. Hiện nay, tại trường đại học Harvard có chương trình hậu đại học Phật giáo nhằm đào tạo tu sĩ lãnh đạo các chùa. Điều này cho thấy sự quan trọng mà giáo dân Mỹ đặt trên sự đào tạo một vị lãnh đạo tinh thần của họ. Tăng Ni chúng ta cần học hỏi các chương trình học này để có thể sinh hoạt, phục vụ, và hướng dẫn các Phật tử một cách hữu hiệu.

Trong bài thuyết trình này, chúng con rất cảm kích có được cơ hội trình bầy những nhận xét và ý kiến thô thiển của chúng con trong vấn đề đào tạo và đóng góp của Ni chúng trong lãnh vực hoằng pháp. Chúng con xin được sự đóng góp ý kiến của Chư Tôn Đức Tăng Ni và các đại biểu của Đại Hội để chúng con có một đường hướng hoàn chỉnh hơn cho sự tổ chức tu học và hoằng pháp của chúng con. Chúng con tin rằng sự đào tạo chư ni trẻ có nền tảng thế học và Phật học rất cần thiết trong sự tu tập của chư ni và nhất là có thể đóng góp một cách thiết thực và hữu hiệu cho chương trình hoằng pháp mà Cộng Đồng Tăng Ni Hải Ngoại đề ra.

Trước khi dứt lời, chúng con thành kính cảm tạ chư Hòa Thương đã cho phép Ni chúng chúng con có dịp bày tỏ sự suy nghĩ của chúng con trong vấn đề trọng đại của cuộc đời tu sĩ là sự tu học và hoằng pháp.


[1] Thích Như Nguyệt, Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, p. 322. Theo Ni Sư Như Đức, Ni Bộ Bắc Tông (Thành Phố Hồ Chí Minh), p. 22-23 thì Ni Sư Diệu Nga là Hồng Nga – Diệu Ngọc.

[2] Thích Như Đức, Ni Bộ Bắc Tông (Thành Phố Hồ Chí Minh), pp. 24-37.

[3] Thích Như Đức, Ni Bộ Bắc Tông (Thành Phố Hồ Chí Minh), pp. 42-50.

[4] Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm, Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, pp. 395-6.

[5] Thích Như Nguyệt, Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, p. 537.

[6] Thích Như Nguyệt, Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, p. 535.

[7] Thích Như Nguyệt, Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, p. 41

[8] Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam cùng Môn Đồ Pháp Quyến, Tưởng Niệm Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938-2003), p. 48.

[9] Trần Thạc Đức, Đạo Phật Việt Nam và hướng đi nhân bản đích thực, p. 101

[10] Thích Trí Thủ, Toàn Tập Tâm Như Trí Thủ – Tập I, pp. 682-4.

[11] Thích Nữ Như Nguyệt, “Sự Phát Triển của Tỳ Kheo Ni Tăng Đoàn”



Thích nữ Tịnh Quang


 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ

  XEM PHỔ QUANG TRÊN 


 Những Bản Tin Mới 
Cuộc đời là những mâu thuẫn
Hạt Quinoa: Thực phẩm cần thiết cho người ăn chay
Chái tây
Khôi phục Đại Bảo tháp tại huyện Khammam, Andhra Pradesh
Chư ni xây dựng tu viện làm bằng rơm
Trường Phật giáo chuyển sang thời đại kỹ thuật số
Chuyện hai người quét rác
Trai Đàn Chẩn Tế San Jose ngày 3 tháng 10 năm 2015
LỄ HỘI TẾT TRUNG THU 2013 - 4:00 PM THỨ BẢY NGÀY 21 THÁNG 9 NĂM 2013 TẠI CHÙA PHỔ QUANG
THƯ MỜI THAM DỰ ĐẠI LỄ VU LAN P.L. 2557 TẠI CHÙA PHỔ QUANG (THỨ BẢY 17/8/2013)
THƯ MỜI THAM DỰ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2557 TẠI CHÙA PHỔ QUANG (01.06.2013)
Phật tử Chùa Phổ Quang Thành Kính Phân Ưu đến gia đình Cụ Bà Diệu Nguyện PHAN THỊ MIỀU
Thẩm cung HT Thích Trí Lãng, Viện Chủ Đạo Tràng Pháp Hoa San Jose, Cali; Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện GHPGVNTNHN-HK
Thẩm cung Sư Cô Thích Nữ Kiến Tâm, Thư Ký Đạo Tràng Pháp Hoa Chùa Thích Ca Đa Bảo, San Jose và Reseda, California
Thư Mời Tham Dự Lễ Kỷ Niệm Phật Thành Đạo và Liên Hoan Tất Niên
Thẩm cung Thượng Tọa Thích Giác Đẳng, Tổng Thư Ký Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
Thẩm cung Hòa Thượng Thích Viên Lý, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
Thẩm cung Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, Chủ Tịch Văn Phòng II VHĐ GHPGVNTNHN-HK

 Tin Trên Diễn Đàn 
[ Dien dan ]   [ Tim kiem ]


Mọi ý kiến xây dựng, đóng góp hoặc gửi tin tức, bài vở xin liên lạc: • e-mail: banbientap@phoquang.org
Hỗ trợ kỷ thuật xin liên lạc • e-mail: webmaster@phoquang.org