Danh Mục Chính 
 CÁC MẪU ĐƠN 

  Mẫu Xin Cầu An
  Mẫu Xin Cầu Siêu
  Mẫu Ký Tự Hương Linh
  Mẫu Xin Quy Y Tam Bảo
  Ghi Danh Học Tiếng Việt

10 Nhạc Phẩm Mới Nhất
Mùa Xuân Em Đi Lễ Chùa
Xin Cho Em Mùa Xuân
Xin Chúc Mừng Xuân
Xuân Bốn Mùa
Xuân Còn Mãi Nhân Gian
Bảo Lụt Tại Queensland
Bảo Lụt Tại Queensland
Người Con Đức Phật
Hình Bóng Thầy
Hạnh Nguyện Cưu Mang
 CÂU HỎI PHẬT PHÁP 
Đức Phật nói Kinh gì cuối cùng ?

 Kinh Bát Nhã
 Kinh Di Giáo
 Kinh Phạm Võng
 Kinh Di Đà



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời 297
 Thành viên có mặt 
 Khách: 008
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 008
 Hits 052886217
 Kho Lưu Bài Viết 
Tháng Bảy 2017
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
 TÌM KIẾM (SEARCH) 
 
Tin tức » Lịch Sử Phật Giáo » Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam 21.07.2017 10:01
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam (phần 2)
[18.12.2009 14:45] - Thích Giải Nghiêm

Xem hình
Chùa Chúc Thánh tại Cẩm Phô, Hội An, tỉnh Quảng Nam
Kể từ ngày Tổ sư Minh Hải khơi nguồn đạo mạch, đến cuối thế kỷ XVIII các chùa tại tỉnh Quảng Nam đều do các Thiền sư dòng Chúc Thánh đảm nhiệm giáo hóa. Không những thế, tầm ảnh hưởng của dòng Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng vào các tỉnh phía Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Định...

 

 


( Xem Phần đầu )


Năm Mậu Thìn (1928), niên hiệu Bảo Đại thứ 3, Hòa thượng Chơn Pháp-Đạo Diệu-Phước Trí khai giới đàn và làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Từ Vân-Đà Nẵng. Trong hàng giới tử đắc pháp với Ngài có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những cao Tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Năm Kỷ Tỵ (1929), niên hiệu Bảo Đại thứ 4, Hòa thượng Phước Trí lại được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu tại giới đàn chùa Phước Lâm-Hội An.

Qua các giới đàn mà ngày nay chúng ta biết được, phần nào tái hiện lại sinh hoạt của cộng đồng tăng lữ ngày xưa tại Quảng Nam. Điều này thể hiện được mối quan hệ khắng khít của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh thời bấy giờ. Các đàn giới đã đào tạo những thế hệ Tăng sĩ kế thừa nên môn phái ngày càng phát triển rộng khắp. Đồng thời, qua các giới đàn này, đã nói lên được mối liên hệ của chư tăng Quảng Nam đối với các tỉnh lân cận như Thừa Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v…Bởi vì, các giới đàn được khai mở tại Quảng Nam đều có sự tham dự của chư tăng các tỉnh trong Hội Đồng Thập Sư cũng như giới tử cầu thọ giới. Cũng thế, khi các tỉnh mở giới đàn đều cung thỉnh các Thiền sư ở Quảng Nam tham dự và chư tăng Quảng Nam cũng đến các tỉnh cầu thọ giới.

Ngoài việc lập đàn truyền giới, sự quan hệ của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh tại Quảng Nam được biểu hiện qua các ngày giỗ Tổ, khánh thành chùa, tang lễ v.v… Trong những Phật sự này, chư tăng tề tựu hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, thể hiện tình pháp lữ đồng môn gắn bó tương thân tương trợ.

b. Tổ chức của Môn phái.

Những ngày đầu hình thành, môn phái Chúc Thánh chỉ sinh hoạt đơn giản với danh từ Chư Tự Sơn Môn. Lúc đó, sự Tổ chức còn sơ sài, chùa nào có bậc cao tăng thạc đức, uyên thâm giáo điển là tăng chúng quy tụ về theo học. Thông thường, các Thiền sư danh tiếng đều trụ tại đạo tràng Phước Lâm. Vì thế Phước Lâm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của môn phái Chúc Thánh.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, tình hình chính trị đất nước biến chuyển phức tạp. Các giáo sĩ Thiên chúa theo bước chân lính Pháp sang truyền giáo và chủ trương đập chùa làm nhà thờ. Minh chứng cụ thể là chùa Bửu Châu do chúa Tiên-Nguyễn Hoàng lập năm Đinh Mùi (1607) tại Trà Kiệu đã bị người Thiên chúa san bằng để làm nhà thờ Trà Kiệu.

Trước tình hình như vậy, vào năm Tân Dậu (1921), Hòa thượng Ấn Nghiêm -Phổ Thoại đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư Sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng già, chỉnh đốn Thiền môn đồng thời bảo vệ các chùa trước sự tàn phá của binh lính Pháp. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị Sự đầu tiên.

Cơ cấu của Tổ chức Bản Tỉnh Chư Sơn Hội gồm có một vị hội trưởng, một vị thư ký, mỗi huyện thị có một vị Chánh Kiểm Tăng và một vị Phó Kiểm Tăng. Lúc bấy giờ tỉnh Quảng Nam chia làm 9 phủ huyện như sau: Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, Tiên Phước, Hội An.

Tổ chức Bản Tỉnh Chư Sơn Hội đã bảo vệ được các chùa trước sự tàn phá của lính Pháp cũng như củng cố Tăng già làm tiền đề cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Tổ chức này chính là tiền thân của Giáo Hội Tăng Già về sau.

Đến năm Nhâm Thân (1992), nhân dịp khánh thành bảo tháp Tổ sư Minh Hải, môn phái Chúc Thánh mới chính thức thành lập. Đây là nhu cầu thiết yếu để duy trì truyền thống và sự phát triển của tông môn. Chư Tăng Ni thuộc môn phái khắp các tỉnh thành trong cả nước đều vân tập về Chúc Thánh Tổ chức hội nghị thành lập môn phái. Danh xưng chính thức được gọi là Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh và đặt trụ sở tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An. Cơ cấu Tổ chức bao gồm 2 hội đồng: Hội Đồng Môn Phái và Hội Đồng Điều Hành. Hội Đồng Môn Phái gồm các vị tôn túc tiêu biểu cho giới luật, có nhiệm vụ chứng minh các đại lễ, đàn giới của môn phái. Hội Đồng Điều Hành có trách nhiệm điều hành mọi công tác Phật sự của môn phái. Đứng đầu môn phái có một vị Trưởng môn phái và nhiều vị Phó trưởng môn phái, chánh phó thư ký và các ủy viên. Các vị phó trưởng môn phái là chi phái trưởng tại các tỉnh thành. Hội nghị cũng đã thông qua bản Nội Quy của môn phái bao gồm 7 chương 16 điều. Đồng thời, trong hội nghị này, môn phái cũng đã quy định 3 năm một lần vào ngày giỗ Tổ Minh Hải mồng 7 tháng 11 các năm thuộc chi Dần, Tỵ, Thân, Hợi, Tăng Ni các nơi Tổ chức về nguồn để họp bàn Tổng kết đánh giá những thành tựu, ưu khuyết của môn phái, từ đó, vạch ra chương trình sinh hoạt trong những năm tới. Thông lệ này được thực hiện một cách đều đặn từ ngày ấy đến nay.

Xuyên suốt 300 năm truyền thừa trên đất Quảng, Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh hình thành và phát triển theo thời gian. Dần theo năm tháng, với những chuyển biến của đất nước, môn phái Chúc Thánh có những Tổ chức cụ thể để duy trì truyền thống tông môn. Sự thành lập Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh vào năm Nhâm Thân (1992) là đỉnh cao của tinh thần hòa hợp của Phật giáo. Đây là một Tổ chức kiện toàn nhất của dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ trước đến nay.

2.3. CÁC THIỀN SƯ TIÊU BIỂU TRONG SỰ NGHIỆP TRUYỀN THỪA:

Với 300 năm truyền thừa và phát triển, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, tại Quảng Nam đều có các vị Thiền sư đóng vai trò chủ đạo của tông môn. Các vị Thiền sư tiêu biểu trong sự nghiệp truyền thừa qua các thời kỳ như sau:

1. Hòa thượng Ân Triêm (1712-1796): Ngài họ Lê, sinh năm Nhâm Thìn (1712) tại xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam. Tương truyền: mẹ Ngài một đêm nằm mộng thấy con trâu chọc sừng chui vào bụng, từ đó bà thọ thai. Từ khi mang thai, bà nhàm chán những thức ăn thịt cá, chỉ dùng toàn chay tịnh và sau đó sanh ra Ngài.

Năm lên 10 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Minh Hải tại chùa Chúc Thánh, được Tổ ban cho pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, nối pháp đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau khi Tổ Minh Hải viên tịch, Ngài đến ấp Trảng Kèo, xã Thanh Hà, phủ Điện Bàn (Nay là phường Thanh Hà-Hội An) lập thảo am lấy tên là Phước Lâm để tịnh tu đạo nghiệp. Không bao lâu, hương thơm giới hạnh của Ngài lan khắp mười phương và đồ chúng theo về tu học ngày càng đông, dần dần tịnh thất Phước Lâm trở thành Tùng Lâm nguy nga tại Xứ Quảng.

Gần 50 năm khai sáng và hành đạo tại Phước Lâm, vào ngày mồng 10 tháng 11 năm Bính Thìn (1796), sau khi dặn dò phó chúc cho đệ tử, Ngài phát nguyện thiêu thân cúng dường Tam bảo, hưởng thọ 85 tuổi. Đồ chúng lập tháp tại phía Tây Nam trong khuôn viên chùa Phước Lâm để thờ linh cốt Ngài.

Hơn 60 năm hoằng dương chánh pháp, Hòa thượng Ân Triêm đã kế thừa sự nghiệp của Tổ Minh Hải thắp sáng ngọn đèn chánh pháp tại Quảng Nam. Đệ tử của Ngài có các vị như Pháp Ấn-Tường Quang-Quảng Độ, Pháp Liêm-Luật Oai-Minh Giác (trụ trì chùa Phước Lâm); Pháp Chuyên-Luật Truyền-Diệu Nghiêm (khai sơn chùa Từ Quang-Phú Yên); Pháp Tịnh-Luật Phong-Viên Quang (khai sơn chùa Thiên Hòa-Tuy Phước). [10, 3]

2. Hòa thượng Minh Giác (1747-1830): Ngài thế danh Võ Đức Nghiêm, sinh ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747) tại thôn Ngọc Trì, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm Kỷ Mão (1759), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài xuất gia tại chùa Phước Lâm với Hòa thượng Ân Triêm và được bổn sư cho pháp danh Pháp Liêm, tự Luật Oai. Như vậy, Ngài nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Canh Dần (1770), sau hơn 10 năm tu tập, Ngài về làng thăm song thân. Gặp lúc giặc mọi Đá Vách lại nổi dậy, Ngài tòng quân đánh dẹp loạn phỉ, lập nhiều chiến công được phong chức chỉ huy. Tuy hưởng công danh phú quý, nhưng Ngài nhàm chán nên từ quan, về lại Hội An, phát nguyện quét chợ 20 năm để sám hối tội lỗi gây ra trong chiến tranh. Quét chợ để làm sạch cảnh trần ai và cũng là quét sạch mọi cấu bẩn trong tâm, dọn mình khiết tịnh để tiến lên bờ giác.

Năm Mậu Ngọ (1798), khi công hạnh viên mãn, Ngài được Chư Sơn cũng như tín đồ thỉnh về trụ trì chùa Chiên Đàn và tôn hiệu là Minh Giác Hòa thượng. Trong tờ biểu tôn xưng có nói: “Phật là giác giả, Hòa thượng có tính thông tuệ, tự cho con đường tình duyên danh lợi đã 20 năm nay như đem dao cắt đứt hẳn, coi giống cát sông bọt nổi. Lại đem mình ở nơi thị tỉnh chịu đựng bụi trần nhọc lòng khổ chí để giữ vững tâm niệm nhập đạo mà thành tựu tấm thân chứng đạo. Đã hay tự mình khai giác hết thảy những người có tình như chiêm bao thức giấc vậy. Trong điển Phật có nói: Tự mình biết, bảo cho người khác biết, đó là có ý nghĩa đầy đủ tiếng khen về biết rõ cả” [14, 169].

Ngài trở lại Phước Lâm cùng Ngài Quảng Độ trùng tu chùa và kế thế trụ trì. Ngài tích cực xiển dương chánh pháp cho đến khi viên tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830) hưởng thọ 84 tuổi.

Hàng đệ tử thờ Ngài với hai câu đối đầy ý nghĩa như sau:

  • Dẹp giặc, quét chợ, mấy độ gian lao, xuất gia lạ, phát nguyện càng thêm lạ, tám mươi vãng sanh thành chánh giác.

  • Làm chùa, đúc chuông, biết bao công đức, sữa cũ đẹp, làm mới lại càng đẹp, ngàn năm sáng mãi ngọn đèn Thiền.

Đệ tử của Ngài có các vị thành danh như: Ngài Toàn Nhâm-Vi Ý-Quán Thông (trụ trì chùa Phước Lâm); Toàn Ý-Vi Tri-Phổ Huệ (khai sơn Chùa Phổ Bảo- Bình Định); Toàn Tín-Vi Tâm-Đức Thành (khai sơn chùa Khánh Lâm-Tuy Phước). Hạnh nguyện của Ngài quả thật là vô tiền khoáng hậu trong dòng sử Phật Việt. Ngày nay người dân Phố Hội thường nhắc đến Ngài với cái tên dung dị: Tổ Bình Man Tảo Thị.

3. Hòa thượng Quán Thông (1798-1883): Ngài thế danh Nguyễn Văn Định, sanh vào năm Mậu Ngọ (1798), tại làng Trung Phường, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia và đắc pháp với Tổ Pháp Liêm-Luật Oai nên có pháp danh Toàn Nhâm, tự Vi Ý, hiệu Quán Thông, nối pháp đời 37 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Canh Dần (1830), Ngài trụ trì chùa Phước Lâm sau khi Bổn sư viên tịch. Tiếp đó, Ngài lại được Chư Sơn cung thỉnh kiêm trụ trì chùa Chúc Thánh.

Vào các năm Ất Tỵ (1845), Kỷ Dậu (1849), Ngài đứng ra quyên mộ trùng kiến Tổ đình Chúc Thánh, xây dựng tiền đường và đổi hướng chùa từ hướng Tây sang hướng Tây Nam cho phù hợp với địa thế phong thổ.

Ngày mồng 2 tháng 3 năm Quý Mùi (1883), Ngài thị tịch, hưởng thọ 86 thế tuế. Phần lớn đệ tử của Ngài đảm nhiệm các chùa tại Quảng Nam như: Chương Nhẫn-Tuyên Hòa-Quảng Hóa (trụ trì chùa Phước Lâm); Chương Đạo-Tôn Tùng-Quảng Viên, Chương Khoáng-Tuyên Điền-Chứng Đạo (trụ trì chùa Chúc Thánh); Chương Quảng-Tuyên Châu-Mật Hạnh, Chương Tư-Tuyên Văn-Huệ Quang, Chương Tín-Hoằng Ân (hoằng hóa tại Ngũ Hành Sơn); Chương Lý-Tôn Sư-Trí Quang, Chương Chất-Tông Chiếu-Quảng Thành, Chương Đàn-Tông Khai-Hoằng Đạt (hoằng hóa tại chùa Cổ Lâm-Đại Lộc). [9, 98]

4. Hòa thượng Huệ Quang (…-1873):Ngài thế danh Đặng Văn Quang người xã Đức An, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia đắc pháp với Tổ Quán thông nên có pháp danh Chương Tư, tự Tuyên Văn, hiệu Huệ Quang, thuộc đời 38 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau khi thọ đại giới, Ngài xin Bổn sư vân du vào tham học Kinh Luật tại chùa Từ Quang-Đá Trắng tỉnh Phú Yên.

Năm Tân Dậu (1861), Ngài được triều đình bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Ứng trên núi Ngũ Hành và đến năm Nhâm Tuất (1862), triều đình cải bổ Ngài làm trụ trì quốc tự Tam Thai.

Năm Kỷ Tỵ (1869), niên hiệu Tự Đức thứ 22, Ngài lập đàn truyền giới tại Phước Lâm, thỉnh Hòa thượng bổn sư Quán Thông làm Đàn đầu.

Năm Quý Dậu (1873), vào ngày 22 tháng 6 Ngài nhóm họp môn đồ, ân cần phó chúc mọi việc một cách rõ ràng rồi an nhiên mà thoát hóa. Môn đồ đã kiến tạo bảo tháp của Ngài tại phía Nam ngọn Âm Hỏa Sơn trong núi Ngũ Hành.

5. Hòa thượng Vĩnh Gia (1840 -1918): Ngài thế danh Đoàn Nhược sinh vào năm Canh Tý (1840) tại làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm Kỷ Mùi (1859), Ngài đến chùa Tam Thai- Ngũ Hành Sơn xin xuất gia với Tổ Chương Tư-Tuyên Văn, được Tổ ban cho pháp danh là Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên. Từ đây, Ngài nối truyền đời thứ 39 tông phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Kỷ Tỵ (1869), Ngài thọ giới cụ túc tại giới đàn chùa Phước Lâm do Tổ Quán Thông làm đàn đầu và được phú pháp hiệu Vĩnh Gia. Năm Quý Mùi (1883), Ngài được triều đình sắc phong trụ trì quốc tự Linh Ứng. Năm Đinh Hợi (1887), Thiền sư Chương Nhẫn-Tuyên Hòa, trụ trì Tổ đình Phước Lâm viên tịch, Ngài được sơn môn cung thỉnh trụ trì Phước Lâm.

Là một cao Tăng tinh thông Tam tạng, nghiêm trì giới luật nên đạo hạnh của Ngài lan rộng khắp các tỉnh miền Trung. Vì thế Ngài thường được triều đình thỉnh về kinh đô Phú Xuân để thuyết pháp cho Vua và hoàng tộc, cũng như cung thỉnh trong các giới đàn tại các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Nam, Bình Định v.v…

Ngài thường xuyên kiến đàn truyền trao giới pháp cho chư Tăng tu học. Đặc biệt, giới đàn năm Canh Tuất (1910) tại Phước Lâm, các giới tử đắc giới đều là những bậc cao tăng rường cột cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Trong đó, nổi bậc nhất là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già Lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia. Có vậy nước Thiền định mới khai thông, đèn Tri giác thêm sáng tỏ”.

Vào ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), Ngài thị tịch, thọ thế 79 tuổi. Nhục thân của Ngài được an trí trong bảo tháp rất trang nghiêm nằm phía tả Tổ đình Phước Lâm. [9, 100-102]

6. Hòa thượng Từ Trí (1852-1921): Ngài tên Nguyễn Viết Lư sinh năm Nhâm Tý (1852), tại xã An Bình, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Dần (1866), vừa tròn 15 tuổi, Ngài đến chùa Linh Ứng bái Hòa thượng Chương Quảng-Tuyên Châu làm thầy. Ngài được Tổ ban pháp danh Ấn Lan, tự ụ Tổ Huệ, hiệu Từ Trí, nối pháp đời 39 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Đinh Hợi (1887), Ngài được triều đình bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Ứng. Từ đây, Ngài ra sức tu bổ Linh Ứng khiến cho chùa ngày càng khang trang mỹ lệ. Đồng thời, Ngài tham dự các giới đàn để thí giới cho tăng đồ tu học.

Năm Ất Mùi (1895), triều đình sắc phong Ngài làm Tăng cang, cai quản hai chùa Tam Thai-Linh Ứng. Trong lịch sử Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn, Ngài là vị Tăng cang đầu tiên vậy.

Năm Đinh Dậu (1897), vua Thành Thái ban cho hai chiếc “Ngũ Phước Ngân Tiền”, tưởng thưởng cho công đức tu hành cũng như đạo hạnh của Ngài. Năm Canh Tý (1900), vua ban cho Ngài tấm biển với 4 chữ “Hữu Tâm Tượng Giáo” để tán thán tài đức của Ngài đã làm Phật giáo hưng thạnh như thời Tượng pháp.

Năm Nhâm Dần(1902), Ngài Tổ chức trai đàn tại chùa Linh Ứng, vua Thành Thái ngự vào dự lễ, ban cho Ngài sáu chiếc ca sa để thưởng cho Phật sự này.

Năm Tân Dậu (1921), Ngài đã viên tịch, thọ 70 thế tuế. Bảo tháp của Ngài được xây dựng tại phía Nam của ngọn Thủy Sơn trong cụm Ngũ Hành.

Ngài để lại tác phẩm “Ngũ Hành Sơn Lục”, một cuốn sách rất có giá trị lịch sử về các thắng tích cũng như tiểu sử chư Hòa thượng hoằng hóa tại Ngũ Hành Sơn. [11, 220-222]

7. Hòa thượng Phổ Thoại (1875-1954): Ngài thế danh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm Ất Hợi (1875) tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Năm Đinh Hợi (1887), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Chương Đạo- Tôn Tùng tại chùa Chúc Thánh với pháp danh Ấn Nghiêm, tự Tổ Thân, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài vốn người thông minh, tính tình cương trực nhưng khiêm nhượng nên Bổn sư rất yêu mến. Vào năm Quý Tỵ (1893), Tổ Chương Đạo viên tịch, Ngài về Phước Lâm y chỉ Tổ Vĩnh Gia để tu học.

Vào tháng 4 năm Ất Mùi (1895), khi vừa tròn 20 tuổi, Ngài được Tổ Vĩnh Gia truyền trao giới Cụ túc và phú pháp với pháp hiệu là Phổ Thoại.

Năm Kỷ Dậu (1909), được một Phật tử hiến cúng khu đất tại ấp Hậu Xá, xã Thanh Hà, Ngài xin phép Tổ Vĩnh Gia ra lập một thảo am nhỏ lấy tên là Long Tuyền để tiện việc tu niệm. Cũng trong năm này, Ngài vận động đúc một đại hồng chung nặng 200Kg dưới sự chứng minh của Ngài Tăng cang Từ Trí. Từ đó, Ngài lần lần xây dựng Long Tuyền thành một ngôi Phạm vũ nguy nga và được triều đình nhà Nguyễn ban sắc tứ vào năm Quý Dậu (1933).

Năm Tân Dậu (1921), Ngài đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư Sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng già, chỉnh đốn Thiền môn. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị Sự đầu tiên. Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma, Giáo Thọ trong nhiều đàn giới tại Quảng Nam. Năm 1933, khi Hội An Nam Phật Học thành lập, Ngài được cung thỉnh làm chứng minh đạo sư cho hội.

Hòa thượng Phổ Thoại là một người giới luật tinh nghiêm, chuyên cần tu niệm, thường trì tụng kinh Phạm Võng. Ngoài tinh thần vì Đạo pháp, Ngài còn có một tinh thần Dân tộc rất cao. Ngài thường dạy đệ tử: “Nước nhà mất thì đạo cũng không còn, nên cần phải có ý thức trách nhiệm đối với quốc gia”.

Vào ngày mồng 9 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1954), Ngài đã thị tịch, thọ 80 tuổi. Môn đồ thỉnh nhục thân an trí trong bảo tháp tại phía hữu chùa Long Tuyền. Ngài đã đào tạo được nhiều vị đệ tử tài ba phục vụ cho Phật giáo Quảng Nam hiện đại. [10, 8-10]

8. Hòa thượng Thiện Quả (1881-1962): Ngài thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tỵ (1881), tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm lên 15 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Ấn Bính-Tổ Thuận-Phổ Bảo tại chùa Chúc Thánh nên có pháp danh Chơn Chứng. Như vậy, Ngài nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm 17 tuổi, Ngài ra Tam Thai học tập kinh luật. Đến năm Nhâm Dần (1902), khi vừa 21 tuổi thì thọ Sa Di tại giới đàn chùa Từ Quang ở Phú Yên và được ban pháp tự là Đạo Tâm. Năm Canh Tuất (1910), Ngài thọ Đại giới tại chùa Phước Lâm do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn đầu Hòa thượng và Tổ đã phú pháp cho Ngài với pháp hiệu là Thiện Quả. Sau khi thọ giới, Hòa thượng xin phép Bổn sư tiếp tục vào tu học tại chùa Từ Quang ở Phú Yên.

Năm Giáp Dần (1914), Tổ Ấn Bính gọi Ngài về và ấn chứng kế thừa trụ trì Chúc Thánh. Hòa thượng về trụ trì Chúc Thánh một thời gian thì đạo phong của Ngài đã lan tỏa khắp nơi và ngày mồng 8 tháng 9 năm Canh Thân (1920), chùa Chúc Thánh được triều đình ban Sắc Tứ.

Với đạo hạnh cao thâm, Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng cho các giới đàn tại chùa Báo Quốc- Huế, Từ Vân- Quảng Nam, Thạch Sơn-Quảng Ngãi v.v…

Năm Quý Dậu (1933), vào ngày mồng 8 tháng 7, Ngài được triều đình sắc phong Tăng cang chùa Chúc Thánh, ban cho giới đao, độ điệp và đến năm Bính Tý (1936), Ngài lại được sắc phong Tăng cang Tam Thai-Linh Ứng.

Vào những năm 1930 -1940, Hòa thượng được cung thỉnh Chứng minh đạo sư cho Hội An Nam Phật Học tại Quảng Nam. Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài trùng tu chánh điện, Đông đường, Tây đường khang trang cho đến ngày hôm nay.

Vào mùa hạ năm Nhâm Dần (1962), Ngài thị bịnh và viên tịch vào ngày mồng 6 tháng 7, thế thọ 82. Bảo tháp của Ngài được môn đồ an trí bên cạnh tháp Tổ Minh Hải trong khuôn viên Tổ đình Chúc Thánh. [10, 11-12]

9. Quảng Nam Tứ Trụ: Quảng Nam Tứ Trụ là danh từ thân mật kính ngưỡng mà chư Tăng Ni Phật tử gọi 4 vị Hòa thượng tài ba lỗi lạc của xứ Quảng hiện đại. Đó là Hòa thượng Chơn Phát, Hòa thượng Long Trí, Hòa thượng Như Vạn, Hòa thượng Như Huệ. Mỗi vị có một biệt tài và đã đoàn kết bên nhau hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu hành cũng như tham gia các phong trào đấu tranh đòi tự do bình đẳng tôn giáo vào những thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX. Các Ngài kế thừa sự nghiệp chư Tổ làm cho Phật giáo Quảng Nam một thời hưng thịnh.

  • Hòa thượng Chơn Phát: Ngài thế danh Nguyễn Nghi, sinh năm Nhâm Thân (1932) tại thôn Kim Bồng, xã Cẩm Kim, Hội An. Ngài xuất gia năm lên 10 tuổi với Hòa thượng Phổ Thoại tại Long Tuyền với pháp danh Chơn Phát, tự Đạo Dũng, hiệu Long Tôn, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Vào những thập niên 50-60, Ngài theo học tại Phật học đường Ấn Quang và làm giáo thọ sư tại Học viện Giác Sanh-Sài Gòn. Năm 1961, Ngài về trụ trì chùa Long Tuyền và thành lập Phật Học Viện Quảng Nam vào năm 1970. Ngài là người thâm hiểu Phật pháp và tâm huyết với việc đào tạo tăng tài. Hiện nay, Ngài đương kim trụ trì chùa Long Tuyền - Hội An.

  • Hòa thượng Long Trí (1928 -1998): Ngài thế danh Lý Trường Châu, sanh năm Mậu Thìn (1928) tại làng Minh Hương-Hội An. Xuất gia năm 19 tuổi với Hòa thượng Phổ Thoại nên có pháp danh Chơn Ngọc, tự Đạo Bảo, hiệu Long Trí, nối pháp đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Trong những thập niên 50, các Tăng sĩ cùng khóa đều theo học các trường ở miền Nam thì Hòa thượng trụ tại trú xứ và theo học với bổn sư. Do thiên tính bẩm sinh nên Ngài rất có khả năng Tổ chức hành chánh cũng như nghi lễ. Năm 1954, Ngài về trụ trì chùa Viên Giác theo lời thỉnh cầu của đạo hữu Phật tử, đồng thời làm phó thư ký cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Trong các mùa pháp nạn, Ngài đều dấn thân tranh đấu cho sự tự do tôn giáo. Ngài thường chú trọng đào tạo Gia Đình Phật Tử, một thế hệ trẻ kế thừa Phật giáo sau này. Hòa thượng viên tịch vào ngày 13 tháng 9 năm 1998, hưởng thọ 71 tuổi.

  • Hòa thượng Như Vạn (1930 -1980): Ngài thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại Ái Nghĩa-Đại Lộc. Ngài xuất gia năm 21 tuổi tại Chúc Thánh với Hòa thượng Thiện Quả, được ban pháp danh Như Vạn, tự Giải Thọ, hiệu Trí Phước, nối pháp đời thứ 41 Lâm Tế Chúc Thánh. Năm 1951, Ngài theo học tại Phật Học đường Ấn Quang. Năm 1959, Ngài được sơn môn cử làm trụ trì Tổ đình Phước Lâm. Năm 1960, Ngài được Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần cử làm giảng sư tỉnh Quảng Nam. Hòa thượng là người nhiệt tình trong mọi công tác Phật sự nên rất được Tăng Ni Phật tử yêu mến. Ngài có công trùng tu Tổ đình Phước Lâm trang nghiêm cho đến ngày hôm nay. Ngài viên tịch đột ngột vào ngày 23 tháng 3 năm 1980, hưởng dương 51 tuổi.

  • Hòa thượng Như Huệ: Ngài thế danh Phạm Huệ, sinh năm Giáp Tuất (1934) tại làng Cẩm Phô-Hội An. Ngài xuất gia từ thuở nhỏ với Hòa thượng Thiện Quả tại Tổ đình Chúc Thánh. Ngài được bổn sư ban cho pháp danh Như Huệ, tự Giải Trí, hiệu Trí Thông, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Năm 1951, Ngài cùng các Hòa thượng Chơn Phát, Như Vạn, Chơn Điền v.v… vào học tại Học đường Ấn Quang. Năm 1960, Ngài cùng với Hòa thượng Như Vạn được Tổng Hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư tỉnh Quảng Nam. Trong mùa pháp nạn 1963, Ngài tích cực dấn thân tranh đấu vì sự trường tồn của Đạo pháp. Năm 1964, Ngài được Viện Hóa Đạo bổ nhiệm làm giảng sư chính thức tỉnh hội Quảng Nam. Những năm 1970, Ngài đảm nhận chức vụ trụ trì chùa Pháp Bảo (trụ sở tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam bấy giờ) và làm Giám đốc trường bồ đề Quảng Nam. Năm 1982, Ngài sang hoằng pháp và khai sơn chùa Pháp Hoa - Nam Úc. Hiện nay Hòa thượng là Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan.

Hiện nay, Quảng Nam Tứ Trụ còn lại hai vị, nhưng những gì quý Ngài đã làm vẫn còn lưu lại trong tâm khảm của người con Phật xứ Quảng.

2.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH:

2.4.1. Đối Với Đạo Pháp:

Kể từ khi Tổ Minh Hải khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tính đến nay đã trải qua 300 năm truyền thừa lịch sử. Trong suốt khoảng thời gian ấy, Tăng đồ dòng Chúc Thánh không ngừng vận dụng đem hết mọi khả năng của mình để hoằng dương Phật pháp. Từ một vùng đất mà sự sinh hoạt Phật giáo chưa được ổn định, các Ngài đã đào tạo những thế hệ kế tục xứng đáng làm cho Phật giáo Quảng Nam khởi sắc, ổn định và phát triển song hành cùng với Phật giáo các tỉnh trong nước. Địa hình Quảng Nam từ vùng núi non hiểm trở xa xôi như Hòn Kẽm - Đá Dừng đến miền biển Duy Hải cát trắng đều có dấu chân hoằng pháp của các Ngài. Phần lớn, người dân Quảng Nam đều là tín đồ của Phật giáo. Phật giáo Quảng Nam dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của chư Tăng dòng Chúc Thánh đã góp vào lịch sử truyền bá Phật giáo trên đất Việt những trang vàng son rực rỡ.

2.4.2. Đối Với Dân Tộc:

Với tôn chỉ “Hộ quốc an dân” Tăng nhân Chúc Thánh đóng góp rất lớn cho Dân tộc qua mọi triều đại cũng như các chế độ. Trong giai đoạn Đàng Ngoài-Đàng Trong, trong khi các Thiền sư dòng Tào Động đóng vai trò cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn thì các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã tạo được sự đoàn kết trong mọi tầng lớp dân chúng, góp phần ổn định nhân tâm nên các chúa Nguyễn rất mến mộ. Trong giai đoạn Pháp thuộc, các Ngài cũng đã dấn thân tham gia phong trào Duy Tân, che chở cho các nhà chí sĩ cách mạng nhằm giành lại nền tự chủ của nước nhà. Đến thời cận đại, các Hòa thượng cũng đã tham gia tích cực vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập, hòa giải Dân tộc để mưu cầu hòa bình cho đất nước.

2.4.3. Đối Với Văn Hóa:

Về văn hóa vật thể: Sự phát triển của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Nam đã đưa đến số lượng các chùa ngày một phát triển. Từ Chúc Thánh, các chùa như Phước Lâm, Cổ Lâm, Linh Ứng, Long Tuyền v.v… lần lượt ra đời và trở thành những ngôi chùa Tổ. Kiến trúc các ngôi chùa Tổ đã phần nào nói lên được nét văn hóa riêng biệt của người dân xứ Quảng. Các pho tượng cổ, các quả chuông xưa, những bản gỗ khắc kinh văn v.v… là những di tích minh chứng cho tâm đạo và sự tài hoa của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng, làng đúc Phước Kiều xưa. Các hoành phi liễn đối tại các chùa là một kho tàng triết lý vô tận, thể hiện sự thâm sâu giáo lý Phật Đà của các Thiền sư. Chính quần thể kiến trúc các chùa xưa cũng là một trong những yếu tố quan trọng để Tổ chức UNESSCO công nhận Hội An là di sản văn hóa thế giới, thu hút nhiều khách nước ngoài đến tham quan chiêm ngưỡng.

Về mặt văn hóa phi vật thể: Sự giáo hóa của tăng đồ dòng Chúc Thánh đóng vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần tại đất Quảng. Đạo đức Phật giáo được thể hiện qua đời sống của chư Tăng ảnh hưởng đến sinh hoạt tín ngưỡng cũng như tâm tư tình cảm của người dân nơi đây rất nhiều. Cụ thể tại Hội An, trung tâm của dòng Chúc Thánh, vào mỗi đêm 14 và 30 hàng tháng, nhà nào cũng đặt bàn hương án cúng vọng ngoài trời. Vào những ngày rằm và mồng một, hơn 90% dân chúng ăn chay theo tinh thần Phật giáo. Rải rác tại các huyện thị phụ cận, trong các điệu ai đưa linh, chúng ta nghe ông Công khấn nguyện Đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp độ vong giả. Như vậy, tín ngưỡng A Di Đà và tư tưởng vãng sanh Tịnh Độ ảnh hưởng rất lớn trong cộng đồng dân chúng.

Tóm lại, từ đầu thế kỷ XVIII đến những năm cuối thế kỷ XX, môn phái Chúc Thánh phát triển mạnh và đóng góp tích cực vào sự truyền bá Phật pháp tại Quảng Nam. Từ đây, tăng đồ Chúc Thánh đã vân du đến các tỉnh thành hoằng hóa. Vì thế, dòng Chúc Thánh có sự truyền thừa và ảnh hưởng rất lớn đối vơí sinh hoạt của Phật giáo các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam cũng như lan rộng đến các nước trên thế giới.

-- oo 0 oo --

CHƯƠNG 3

SỰ TRUYỀN THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI
CÁC TỈNH MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM

Kể từ khi Tổ Minh Hải khai dòng pháp thủy tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An, các Tăng đồ thuộc hàng đệ tử và pháp tôn của Ngài đã đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp nơi. Bên cạnh sự hình thành và phát triển tại Quảng Nam, Thiền phái Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng phát triển khắp các tỉnh thành từ Huế vào đến Sài Gòn và lan ra tận hải ngoại vào những thập niên 80 của thế kỷ XX. Từ đó, các Tăng sĩ của dòng Chúc Thánh đã góp phần quan trọng trong sứ mệnh truyền pháp khắp mọi nơi trong và ngoài nước.

3.1 Tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Thừa Thiên-Huế tức Thuận Hóa xưa, là kinh đô của các chúa và vua triều Nguyễn trong vòng 4 thế kỷ. Nhắc đến Huế, người ta liên tưởng đến sự cổ kính của cố đô, đồng thời cũng là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Là kinh đô của một vương triều sùng mộ đạo Phật, Huế đã vinh dự đón nhận bước chân của các bậc cao Tăng đến giảng pháp.

Sự kiện đầu tiên ghi nhận các Thiền sư dòng Chúc Thánh có mặt tại Thuận Hóa là tham dự trai đàn tại chùa Linh Mụ vào năm Minh Mạng thứ 2, tức năm Canh Thìn (1820). Chư tăng tại Quảng Nam ra kinh đô dự đại trai đàn là Hòa thượng chùa Phước Lâm và tăng chúng 20 vị [6, 30]. Vị Hòa thượng ấy là Ngài Minh Giác, một vị cao tăng thuộc thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh.

Đến năm Kỷ Sửu (1889), Thiền sư Chơn Kim-Pháp Lâm thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Châu Lâm-Phú Yên ra kinh đô hoằng hóa tại chùa Viên Thông. Chùa Viên Thông do Tổ Liễu Quán khai sơn, truyền đến đời Ngài Tánh Trạm thì không có người kế thừa nên Thiền sư Chơn Kim đảm nhận chức ỉ trụ trì. Từ đây, Thiền phái Chúc Thánh có mặt và phát triển tại Huế. Tuy nhiên, sự phát triển rất khiêm tốn trong sự truyền thừa của chùa Viên Thông. Các Thiền sư tiêu biểu truyền thừa tại đây có Ngài Hoằng Nguyện và Ngài Diệu Khai.

  • Hòa thượng Hoằng Nguyện: Ngài người làng Bao La, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, có pháp danh Như Thừa. Ngài kế thừa bổn sư Chơn Kim trụ trì chùa Viên Thông. Ngài có công khai khẩn đất chùa thêm 3 mẫu và cả đời thực hành theo chủ trương “bất tác bất thực” của Tổ Bách Trượng. Vào năm Giáp Tý (1924), Ngài định thiêu thân cúng dường vào ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4 nhưng bị Ngài Viên Thành ở Trà Am và Ngài Giác Viên ở Hồng Khê phản đối. Vì thế, Ngài tịch cốc từ mồng mồng 8 tháng 4 đến 15 tháng 5 thì tịch. Đệ tử của Ngài là Thị Bình-Diệu Khai kế thừa trụ trì chùa Viên Thông.

  • Hòa thượng Diệu Khai: Ngài pháp danh Thị Bình, sinh ngày 30 tháng 3 năm Mậu Thân (1908) tại làng Nam Phổ Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi tại chùa Viên Thông và kế vị trụ trì chùa vào năm 1924. Ngài theo học kinh luật với Ngài Viên Thành ở Trà Am và học nghi lễ với Tổ Phước Huệ tại Thập Tháp. Ngài có công trùng tu chùa Viên Thông khang trang cho đến ngày hôm nay. Đệ tử nối pháp của Ngài có các Hòa thượng Đồng Chơn-Thông Niệm (khai sơn chùa Bát Nhã-Đà Nẵng), Hòa thượng Đồng Quả-Thiện Phước (thủ chúng chùa Linh Sơn-Đà Lạt). Hiện tại, trụ trì chùa Viên Thông là Hòa thượng Đồng Huy, hiệu Quảng Tú đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Thiền sư Ấn Bổn-Vĩnh Gia thường được triều đình thỉnh ra kinh đô thuyết giảng. Đạo hạnh và sự uyên thâm Phật pháp của Ngài đã được cộng đồng tăng lữ đất thần kinh kính ngưỡng và theo thọ pháp. Đặc biệt nhất là giới đàn năm Canh Tuất (1910), số giới tử tại Thừa Thiên-Huế vào Phước Lâm thọ giới với Ngài đều đắc pháp, về sau trở thành những bậc đống lương của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Ngoài Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, chúng ta còn biết được một số vị cao Tăng ở Huế thọ pháp với Ngài Vĩnh Gia như: Hòa thượng Giác Viên (khai sơn chùa Hồng Khê); Hòa thượng Chơn Thiệt (chùa Từ Hiếu); Hòa thượng Giác Nguyên (trụ trì chùa Tây Thiên), Hòa thượng Tịnh Hạnh (trụ trì chùa Tường Vân), Hòa thượng Giác Tiên (khai sơn chùa Trúc Lâm) v.v…Các vị này toàn là những bậc long tượng trong nhà Thiền, khiến cho Phật giáo xứ Huế hưng thịnh. Đến năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Chơn Pháp-Phước Trí khai giới đàn tại chùa Từ Vân -Đà Nẵng, tại Huế có một số giới tử vào cầu pháp, trong đó có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một vị cao Tăng thời cận đại, đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

Tóm lại, sự phát triển của dòng Chúc Thánh tại Thừa Thiên-Huế rất là khiêm tốn, chỉ vỏn vẹn một ngôi chùa Viên Thông. Nhưng xét về mối tương giao thì các vị cao Tăng ở Huế thời cận đại đều vào thọ giáo và đắc pháp với các Thiền sư dòng Chúc Thánh tại Quảng Nam. Các Hòa thượng Vĩnh Gia, Phước Trí bằng đạo lực của mình đã tác thành giới thể cho các giới tử, mà về sau trở thành các bậc cao Tăng không những cho xứ Huế mà ảnh hưởng rất lớn đến sự thịnh suy của Phật giáo Việt Nam.

3.2 Tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi là tỉnh tiếp giáp với Quảng Nam nên sớm đón nhận những Thiền sư của dòng Lâm Tế Chúc Thánh đến hoằng hóa. Hai vị đệ tử Tổ Minh Hải đến Quảng Ngãi đầu tiên là Ngài Thiệt Úy-Chánh Thành-Khánh Vân khai sơn chùa Liên Tôn và Ngài Thiệt Uyên-Chánh Thông-Chí Bảo khai sơn chùa Bảo Lâm. Sau đó, Ngài Khánh Vân lên kế thế trụ trì chùa Thiên Ấn khi Tổ khai sơn là Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa viên tịch. Từ đó, Thiên Ấn truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải và trở thành Tổ đình của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Ngãi.

Các hàng đệ tử, pháp tôn của các Ngài lần lượt khai sơn các chùa như: Ngài Ấn Tham-Hoằng Phúc (đời 39) khai sơn chùa Quang Lộc; Ngài Ấn Kim-Hoằng Tịnh (đời 39) khai sơn chùa Phước Quang; Ngài Ấn Lãnh-Hoằng Thạc (đời 39) khai sơn chùa Thạch Sơn; Ngài Hoằng Thanh (đời 39) khai sơn chùa Cảnh Tiên; Ngài Chơn Sử-Khánh Tín (đời 40) khai sơn chùa Thọ Sơn; Ngài Chơn Trung-Diệu Quang (đời 40) khai sơn trùng kiến các chùa như Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Kim Tiên … Ngài Chơn Miên-Trí Hưng (đời 40) khai sơn chùa Từ Lâm, Ngài Như Bình-Giải An (đời 41) khai sơn chùa Từ Quang v.v… Tất cả đã tạo nên một hệ thống các chùa huộc môn phái Chúc Thánh có sự sinh hoạt rất chặt chẽ.

Dòng Lâm Tế Chúc Thánh có những vị cao Tăng góp phần rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp tại Quảng Ngãi, tiêu biểu là các vị Tổ sư tại Thiên Ấn như sau:

  • Đệ nhị Tổ Thiền sư Khánh Vân: Ngài họ Huỳnh, quê làng Mộ Đức, xuất gia với Tổ Minh Hải, pháp danh Thiệt Úy, tự Chánh Thành, hiệu Khánh Vân. Sau khi khai sơn chùa Liên Tôn tại quê nhà, Ngài được thỉnh kế thế Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa trụ trì chùa Thiên Ấn. Từ đây, chùa Thiên Ấn bắt đầu truyền thừa theo dòng kệ của Tổ Minh Hải. Sau hơn 30 năm hoằng dương Phật pháp tại Thiên Ấn, Ngài thị tịch vào ngày mồng 1 tháng 10 năm Quý Tỵ (1773).
  • Đệ tam Tổ Thiền sư Bảo Ấn: Ngài họ Trịnh, quê làng Tráng Liệt, quận Tư Nghĩa, húy Toàn Chiếu, tự Trí Minh, hiệu Bảo Ấn, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài đem hết tâm huyết của mình để trùng tu Tổ nghiệp nên thời Ngài tăng chúng tu hành tại Thiên Ấn rất đông. Ngài noi gương Tổ Bách Trượng thành lập nông Thiền với chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Trong đời Ngài có một truyền thuyết rất là thần kỳ: đó là quả chuông thần . Số là trong một đêm Hòa thượng đang tĩnh tọa tham Thiền, có vị hộ pháp đến thưa Ngài cho người đến làng Chú Tượng, quận Mộ Đức thỉnh đại hồng chung. (Nguyên là làng Chú Tượng có đúc một quả đại hồng chung nhưng đánh không kêu). Sáng ra, Hòa thượng cho thầy Điển tọa đến thỉnh thì hương chức trong làng không đồng ý, phải đến lần thứ hai thì họ mới chấp nhận. Sau khi quả hồng chung về đến chùa, Ngài khấn nguyện tạ Phật và Tổ chức lễ khai chuông. Kỳ lạ thay, khi Ngài cầm dùi đánh thì tiếng chuông ngân vang khắp mọi nơi. Sự kiện này xảy ra vào ngày mồng 10 tháng 4 năm Ất Tỵ (1845), Ngài viên tịch vào ngày 30 tháng 6 năm Bính Dần (1866) sau 40 năm gắn liền với chùa Thiên Ấn.

  • Đệ tứ Tổ Thiền sư Giác Tánh: Sau khi Tổ Toàn Chiếu-Bảo Ấn viên tịch, đệ tử là Ngài Chương Khước, tự Tuyên Tôn, hiệu Giác Tánh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài noi theo chí nguyện của Bổn sư tiếp tục mở rộng nông Thiền và tiếp tăng độ chúng. Môn hạ của Ngài có nhiều vị thành danh như các vị Hoằng Phúc, Hoằng Thanh, Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc v.v… Đạo phong của Ngài đã khiến vị thần cây đến xin quy y và Ngài đã cho pháp danh là “Lãnh sơn Mộc cộng chi thần, pháp danh Ấn Chứng”. Ngài viên tịch vào ngày mồng 1 tháng 3 năm Tân Hợi (1911) với hơn 50 năm hoằng pháp tại Thiên Ấn.

  • Đệ ngũ Tổ Thiền sư Hoằng Phúc: Sau khi Tứ Tổ viên tịch, Ngài Hoằng Phúc, trụ trì chùa Quang Lộc được sơn môn cung thỉnh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài họ Phạm, người làng Phước Long-Tư Nghĩa, húy Ấn Tham, tự Tổ Văn, hiệu Hoằng Phúc, là đệ tử của Tổ Giác Tánh. Ngài có tâm nguyện sùng hưng chốn Tổ, nhưng Ngài chỉ mới trùng tu được cổng tam quan thì viên tịch ngày 19 tháng chạp năm Giáp Dần (1914), sau 4 năm trụ trì Thiên Ấn.

  • Đệ lục Tổ Thiền sư Diệu Quang: Sau khi Ngũ Tổ viên tịch, Thiên Ấn rơi vào tình trạng không có trụ trì. Mãi đến năm Tân Dậu (1921), sơn môn thỉnh Ngài Diệu Quang về trụ trì. Ngài họ Trần, người làng Sung Tích-Sơn Tịnh, là đệ tử của Tổ Hoằng Phúc có pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Chí, hiệu Diệu Quang, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài có công làm con đường trôn ốc từ chân núi lên đến chùa. Đạo phong và uy tín của Ngài vang dội, được triều đình sắc phong Tăng cang vào năm Bảo Đại thứ 3. Ngài có công sáng lập và trùng tu nhiều chùa trong tỉnh cũng như đào tạo các thế hệ tăng sĩ kế thừa. Ngài thị tịch vào ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Thìn (1952). [2, 17-30]

    Tóm lại, kể từ khi có mặt trên đất Quảng Ngãi, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh luôn đem hết khả năng của mình để xiển dương Đạo pháp và phục vụ Dân tộc. Sự đóng góp ấy luôn được Tăng Ni Phật tử các thế hệ sau trân trọng ghi nhận và giữ gìn phát triển. Ngày nay, tại Quảng Ngãi phần lớn các chùa đều truyền thừa theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

    3.3 Tỉnh Bình Định.

    Bình Định, mảnh đất giữa miền Trung nước Việt, nơi đây đã vinh dự đón nhận những bước chân đầu tiên của vị Tổ sư dòng Lâm Tế đến Đàng Trong hoằng hóa: đó là Nguyên Thiều-Thọ Tôn Hòa thượng. Từ đây, Phật giáo Bình Định khởi sắc bởi tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế. Từ cội nguồn đó, dòng Lâm Tế tại Bình Định truyền thừa theo ba bài kệ: Lâm Tế Nguyên Thiều, Lâm Tế Chúc Thánh, Lâm Tế Liễu Quán. Cả ba phái này hòa quyện và bổ túc cho nhau tạo nên một sự ổn định của Phật giáo tỉnh Bình Định từ xưa đến nay.

    Các vị Thiền sư đầu tiên của pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh đến đất Bình Định là Ngài Thiệt Thuận-Chánh Mạng-Huệ Trường khai sơn chùa Linh Sơn-Phù Cát; Ngài Thiệt Đăng-Chánh Trí-Bửu Quang khai sơn chùa Sơn Long-Quy Nhơn. Cả hai vị đều là đệ tử của Tổ sư Minh Hải, thuộc đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tiếp đến, Ngài Pháp Tịnh-Viên Quang, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh (đệ tử Tổ Thiệt Dinh ở Phước Lâm-Hội An) vào khai sơn chùa Thiên Hòa. Đời 37 có các Ngài Toàn Ý-Phổ Huệ khai sơn Chùa Phổ Bảo; Toàn Tín-Đức Thành khai sơn chùa Khánh Lâm (cả hai vị là đệ tử Tổ Pháp Liêm tại Phước Lâm-Hội An); Ngài Toàn Thể-Linh Nguyên khai sơn chùa Long Tường (đệ tử Tổ Pháp Chuyên- Diệu Nghiêm chùa Từ Quang-Phú Yên). Đời 38, các vị đệ tử Tổ Toàn Ý ra khai sơn các chùa như: Ngài Chương Lý-Hoằng Hóa khai sơn chùa Diệu Phong; Chương Hiệp-Chánh Trì khai sơn chùa Huỳnh Long; Chương Thiện-Hoằng Đạo khai sơn chùa Phổ Quang; Chương Hải-Thanh Nguyên khai sơn chùa Thiên Trúc; Chương Trí-Quảng Giác khai sơn Chùa Hưng Khánh v.v.. Từ đó tạo nên một hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh có sự liên hệ sinh hoạt chặt chẽ.

    Trong sự truyền thừa của dòng Chúc Thánh tại Bình Định, có những Thiền sư tiêu biểu như sau:

    • Thiền sư Liễu Tạng (1784-1866): Ngài sanh năm Giáp Thìn (1784), xuất gia với Tổ Toàn Tín-Đức Thành tại chùa Khánh Lâm có pháp danh Chương Nghĩa, hiệu Liễu Tạng, thuộc đời 38 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là bậc danh tăng đa văn quảng bác đã soạn cuốn “Thiền Môn Chánh Độ” để làm nghi lễ tế Tăng cang Tổ Ấn-Mật Hoằng thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 10 năm Ất Tỵ (1825). Đây là cuốn khoa nghi đầu tiên được soạn để cung tiến Giác linh khi các Thiền sư viên tịch nên có tầm quan trọng đối với giới Tăng lữ tại kinh đô cũng như các tỉnh thành. Với đạo cao đức trọng và sự uyên thâm giáo điển, Ngài được mời ra Phú Xuân giảng dạy, hoằng pháp. Ngài thị tịch mồng 4 tháng 4 năm Bính Dần (1866), thọ 83 tuổi. Nhục thân được lưu giữ tại chùa Quốc Ân-Huế.

    • Hòa thượng Trí Hải (1876-1950): Ngài thế danh Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876) tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn-Bình Định. Thuở nhỏ, Ngài theo Nho học, thi đậu tú tài năm 31 tuổi. Năm 1919, 43 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Ấn Lãnh-Hoằng Thạc tại chùa Thạch Sơn-Quảng Ngãi, có pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn có kiến thức Nho học cộng với sự thông minh mẫn duệ nên Ngài sớm thâm nhập diệu lý của Phật đà. Năm 1931, Ngài được Hòa thượng Khánh Hòa mời làm chủ bút tạp chí Từ Bi Âm của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1934, Ngài khai sơn chùa Bích Liên tại quê nhà. Từ đó mọi người kính ngưỡng đều gọi Ngài là Hòa thượng Bích Liên. Năm 1937, Hội Đà Thành Phật Học tại Quảng Nam Đà Nẵng mời Ngài làm chủ bút tạp chí Tam Bảo. Sau đó, Ngài về chùa nghiên cứu giảng dạy và đã đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngài viên tịch vào ngày 3 tháng 6 năm Canh Dần (1950) thọ 75 tuổi. Hòa thượng trước tác rất nhiều, đặc biệt hai bản văn “Quy Sơn Cảnh Sách”“Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” bằng chữ Nôm đã thể hiện được sự tài hoa của Ngài. [3, 213-217]

    • Hòa Thượng Trí Độ (1894-1979): Ngài thế danh Lê Kim Ba (Lê Đinh Ba), sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại Phổ Trạch, Tuy Phước-Bình Định. Thuở thiếu thời, Ngài chuyên học Nho và nghiên cứu Phật học. Năm 1935, Ngài được mời làm đốc giáo và giảng dạy tại trường An Nam Phật Học tại chùa Báo Quốc-Huế. Năm 1940, Ngài xuất gia với Tổ Chơn Giám-Trí Hải nên được ban pháp danh là Như Đăng, hiệu Trí Độ, thuộc đời 41 dòng Chúc Thánh. Sau đó, Ngài vào tham học với Hòa thượng Phước Huệ tại Thập Tháp. Năm 1941, Ngài thọ đại giới tại chùa Quốc Ân-Huế. Năm 1945, Ngài tham gia Phật giáo cứu quốc và năm 1946, Ngài được mời ra giảng dạy tại chùa Quán Sứ-Hà Nội. Từ đó, cuộc đời của Ngài gắn liền với những Phật sự tại miền Bắc cho đến ngày viên tịch mồng 4 tháng 1 năm Kỷ Mùi (1979) thọ 86 tuổi. Ngài đã để lại nhiều trước tác và dịch phẩm rất có giá trị về Phật học. [3, 571-578]

    Hiện tại, dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Bình Định còn nhiều cây đại thọ chấn sơn môn, là nơi nương tựa của đàn hậu học như: Hòa thượng Như An-Huyền Quang; Hoà thượng Thị Huệ-Bảo An, Hoà thượng Thị Quảng-Đổng Quán v.v….

    3.4 Các tỉnh Phú Yên - Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận.

    Phú Yên từ xưa đến nay vẫn được giới Phật giáo ca ngợi là chốn Tổ. Bởi lẽ, các bậc Tổ sư danh đức phần lớn xuất thân từ đất Phú Yên như Tổ Liễu Quán, Tổ Giác Ngộ, Tổ Toàn Nhật, Tổ Pháp Tạng v.v… Tại Phú Yên, sự truyền thừa chủ yếu là dòng Lâm Tế Liễu Quán và Lâm Tế Chúc Thánh.

    Người đầu tiên của dòng Chúc Thánh đến Phú Yên là Thiền sư Pháp Chuyên-Diệu Nghiêm, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh. Sau một thời gian hoằng hóa, Ngài khai sơn chùa Từ Quang-Đá Trắng vào năm Đinh Tỵ (1797). Từ đó, chùa Từ Quang trở thành Tổ đình của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên. Nơi đây là trung tâm đào tạo Tăng tài của các tỉnh miền Trung vào các thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX.

    Từ Tổ đình Từ Quang, các đệ tử của Ngài Pháp Chuyên khai sơn các chùa trong tỉnh như sau: Ngài Toàn Đức-Thiệu Long khai sơn chùa Khánh Sơn; Ngài Toàn Nghĩa-Chơn Thường khai sơn chùa Thượng Tiên Thọ Vân; Ngài Toàn Nhật-Quang Đài khai sơn chùa Viên Quang; Ngài Liễu Năng-Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn; Ngài Liễu Diệu-Chánh Quang khai sơn chùa Triều Tôn v.v..Từ đó, dòng Chúc Thánh hưng thịnh tại Phú Yên và liên tục phát triển vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.

    Tại Phú Yên, dòng Chúc Thánh có những vị Thiền sư nổi tiếng như :

    • Thiền sư Diệu Nghiêm (1738-1810): Ngài họ Trần, sinh ngày 2 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) tại làng Cổ Tháp, phủ Thăng Hoa, nay là xã Duy Châu-Duy Xuyên-Quảng Nam. Ngài vốn thông minh đỉnh tuệ, thi đậu tú tài khi 18 tuổi và ra làm quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sau khi xem tuồng “Tam Trinh Cố Sự” và “Long Hổ Sự Duyên”, Ngài ngộ lẽ vô thường ảo hóa của kiếp người nên quyết chí xuất gia. Ngài đến chùa Phước Lâm-Hội An lạy Tổ Ân Triêm làm thầy và được Tổ cho pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Từ đó, Ngài tinh cần học đạo, nổ lực hành trì tu tập. Về sau, Ngài đến chùa Thập Tháp-Quy Nhơn theo học với Ngài Liễu Triệt, đồng thời đọc hết bộ Đại Tạng do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Cửu hiến cúng. Vào một đêm, sau khi đọc kinh Hoa Nghiêm, Ngài thấy lòng tỏ ngộ nên phát nguyện: “Phàm gặp người bất luận nam nữ, già trẻ, sang hèn thảy đều giáo hóa quy kính Tam Bảo, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”. Từ đó, Ngài giáo hóa khắp các vùng từ Quảng Nam vào đến Phú Yên. Mãi đến năm Đinh Tỵ (1797), Ngài mới khai sơn chùa Từ Quang. Thiền sư Pháp Chuyên là người đa văn quảng bác, Ngài trước tác rất nhiều kinh luận, đặc biệt nhất là bộ Tam Bảo Hoặc Luận. Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1810) thọ 73 tuổi. [4, 93-97]

    • Thiền sư Toàn Nhật: Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ quê quán, năm sinh, năm mất cũng như tên thật của Thiền sư Toàn Nhật. Theo tác phẩm “Tam giáo nguyên lưu ký”, Thiền sư nói rằng:


      “Ta xưa cũng dự Nho gia
      Mười hai tuổi học đến ba mươi rày…
      ..Sau ta đầu học phép Thiền
      Thuở ba mươi tuổi vậy liền xuất gia.”


      Như vậy, ban đầu Ngài học Nho nhưng nhận thấy Nho gia không giải quyết được nổi đau sanh tử nên quy y đầu Phật. Năm 30 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Pháp Chuyên tại chùa Từ Quang nên có pháp danh Toàn Nhật, tự Vi Minh, hiệu Quang Đài, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh. Được một vị minh sư như Ngài Pháp Chuyên hướng dẫn, Ngài Toàn Nhật đã ngộ đạo sau 12 năm tu hành, sau đó về trụ trì chùa Viên Quang. Tại đây, Ngài đã biên soạn, san định, giảo chính trên 20 tác phẩm kinh luận bằng chữ Nôm. Ngài là một trong những vị để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm nhất. [4, 148-149]

    • Thiền sư Pháp Tạng: Ngài là đệ tử của Thiền sư Ấn Thiên-Huệ Nhãn, đệ tứ Tổ tại Tổ đình Phước Sơn-Đồng Tròn nên có pháp danh là Chơn Chánh, tự Đạo Tâm, hiệu Pháp Tạng, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài kế vị bổn sư trụ trì Phước Sơn với tâm nguyện tiếp tăng độ chúng. Đạo hạnh của Ngài đã được sơn môn Chúc Thánh thỉnh làm Yết Ma cho giới đàn năm Quý Tỵ (1893) tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An. Năm Giáp Ngọ (1894), Ngài được triều đình mời ra kinh đô làm thủ gia trì chẩn tế đại khoa tại chùa Kim Quang-Huế. Sau khi hạ đàn, vua Thành Thái đến ôm hôn khen ngợi và ban cho đồng kim tiền, một ca sa và một mũ quan âm. Các năm 1906 và 1907, Ngài khai đàn giới tại chùa Từ Quang và Phước Sơn để thí giới cho tăng tục xa gần, độ người vô lượng. Đệ tử của Ngài có các vị nổi danh như Thiền Phương, Thiền Cơ, Thiền Tâm, Cơ Trụ v.v… [4, 75]. Đặc biệt là Ngài Như Đắc-Thiền Phương có công đào tạo nhiều vị cao tăng cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại như các Ngài Thị Chí-Phước Hộ; Thị An-Phước Bình; Thị Tín- Phước Trí; Thị Niệm-Phước Ninh v.v..

    Hiện nay, dòng Chúc Thánh tại Phú Yên đã truyền xuống đến chữ Đồng, chữ Chúc. Tuy nhiên, đã qua rồi thế hệ các bậc long tượng nên sự sinh hoạt của môn phái nơi đây rời rạc hơn so với các tỉnh thành khác.

    3.5 Tại Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh miền Nam.

    Miền Nam, mảnh đất cuối cùng ở phía Nam được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Đây là thành quả tất yếu của cuộc trường kỳ Nam tiến trải dài gần 10 thế kỷ. Tuy nhiên, số lượng người Việt di cư đến vùng đất mới này nhiều nhất là vào thời các chúa Nguyễn. Theo bước chân những người Nam tiến, các Thiền sư dòng Chúc Thánh cũng đã có mặt đáp ứng nhu cầu tu học của quần chúng Phật tử.

    Xét về sự truyền thừa và phát triển của dòng Chúc Thánh tại miền Nam, ta có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn đầu từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX; giai đoạn kế từ đầu cho đến cuối thế kỷ XX.

    a. Giai đoạn đầu:

    Những năm cuối thế kỷ XVIII, chúng ta đã thấy sự có mặt của các Thiền sư dòng Chúc Thánh tại miền Nam. Đó là Thiền sư Gia Lành và Gia Linh, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh đến tỉnh Bình Dương khai sơn chùa Thiên Tôn. Sau khi hai vị Thiền sư này qua đời, đệ tử của Ngài Gia Linh là Ngài Chương Phụng- Nhơn Lịch kế thừa trụ trì chùa. Cùng thời gian này, Thiền sư Toàn Tánh-Chánh Đắc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Tập Phước-Gia Định về trụ trì chùa Hội Khánh-Bình Dương năm 1839.

    Như vậy, đến cuối thế kỷ 18, tại miền Nam đã có 3 ngôi chùa lớn truyền theo bài kệ của Tổ Minh Hải. Đó là chùa Tập Phước tại Gia Định và chùa Thiên Tôn, Hội Khánh tại Bình Dương. Cả hai ngôi chùa Tập Phước và Thiên Tôn có công giúp đỡ vua Gia Long trong giai đoạn bôn tẩu nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long ban sắc tứ để thưởng công.

    Từ chùa Thiên Tôn và Hội Khánh, các đệ tử đã ra khai sơn các chùa Tây Tạng, Thiên Chơn, Phước Thạnh, Bình Long v.v..nên hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh nhanh chóng phát triển tại tỉnh Bình Dương. Trong sự truyền thừa tại đây, nổi tiếng nhất là Hòa thượng Từ Văn và Hòa thượng Minh Tịnh.

    • Hòa thượng Từ Văn (1877-1931): Ngài thế danh Nguyễn Văn Tầm sinh năm Đinh Dậu (1877) tại làng Phú Cường, Thủ Dầu Một. Ngài xuất gia năm lên 10 tuổi với Tổ Ấn Long-Thiện Quới tại chùa Hội Khánh nên có pháp danh Chơn Thanh, hiệu Từ Văn, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là bậc cao tăng của miền Nam nên được chính phủ Pháp mời sang Marseille Tổ chức lễ kỳ siêu cho những người Việt đi lính Pháp chết trận vào năm 1920. Ngài có công đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Phật giáo miền Nam. Ngài viên tịch vào tháng 11 năm 1931, nhục thân được tôn thờ trong khuôn viên Tổ đình Hội Khánh.[19, 25]

    • Hòa thượng Minh Tịnh (1889-1951): Ngài thế danh Nguyễn Tấn Tạo, sinh năm 1889 tại làng An Thạnh, quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương. Năm 16 tuổi xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện tại chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Còn pháp danh Minh Tịnh là do Ngài cầu pháp với Tổ Tuệ Đăng tại chùa Thiên Thai-Vũng Tàu. Năm 1935, Ngài một mình hành hương chiêm bái Ấn Độ và Tây Tạng. Sau 2 năm chiêm bái, tu học mật giáo tại Tây Tạng và Ấn Độ, Ngài trở về Việt Nam mang theo Xá Lợi Phật về tôn thờ tại chùa Thiên Chơn. Năm 1945, Ngài được cử làm Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc Thủ Dầu Một. Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 5 năm 1951, nhục thân được tôn thờ tại chùa Thiên Chơn. Hòa thượng biên dịch để lại hai tác phẩm rất có giá trị là Nhật Ký Tây Tạng và Lăng Nghiêm Tông Thông. [19, 41]

    b. Giai đoạn 2:

    Đầu những năm thế kỷ XX, một số lượng lớn chư Tăng thuộc các tỉnh miền Trung vào Nam hoằng pháp. Có lẽ mảnh đất mới miền Nam trẻ trung có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc tu học nên chư Tăng vào Nam rất nhiều. Trong trào lưu đó, chư tăng thuộc dòng Chúc Thánh tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào miền Nam tu học và chủ yếu là tại thành phố Sài Gòn. Từ đó, các chùa của môn phái Chúc Thánh được thành lập như sau:

    Chư tăng thuộc Quảng Nam ban đầu vào ngụ tại chùa Văn Thánh (Quận Bình Thạnh) và Hưng Long (Quận 10), về sau các chùa Bửu Đà (Quận 10), Pháp Hoa (Quận Phú Nhuận), Giác Quang (Quận 4), Viên Thông (Quận 11), Từ Minh (Quận 3), Bảo Tịnh (Quận Bình Thạnh) v.v… lần lần được thành lập, tạo thành một chi phái Chúc Thánh Quảng Nam tại Sài Gòn.

    Chư tăng thuộc Quảng Ngãi, tiêu biểu là Ngài Khánh Anh vào trụ tại chùa Phước Hậu-Trà Vinh. Tại Sài Gòn, có các chùa Thiền Lâm (Quận 6), Phổ Đà Sơn (Quận 8), Đức Quang (Quận 4), Liên Hoa (Quận 4), Tân Long (Quận 7), Vĩnh Đức (Quận 2) v.v.., tạo thành chi phái Chúc Thánh Quảng Ngãi tại Sài Gòn.

    Chư tăng thuộc tỉnh Bình Định vào lập chùa Giác Uyển (Quận Phú Nhuận), Giác Hoa (Quận Bình Thạnh), Phật Quang (Quận 10) v.v.

    Chư tăng thuộc tỉnh Phú Yên mà nổi tiếng nhất là Hòa thượng Quảng Đức và Hòa thượng Hành Trụ vào lập chùa Quan Thế Âm (Quận Phú Nhuận), Giác Nguyên, Kim Liên (Quận 4), Đông Hưng, Thiền Tịnh, Từ Phong (Quận 2) v.v…

    Như vậy, từ đầu cho đến giữa thế kỷ XX, số lượng chư Tăng thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại các tỉnh miền Trung vào tu học và hoằng pháp tại thành phố Sài Gòn có số lượng khá đông. Hệ thống các chùa truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải ngày một nhiều. Tuy nhiên, nổi bậc nhất là quý Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Quảng Đức, Hòa thượng Hành Trụ đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

    • Hòa thượng Khánh Anh (1895-1961): Ngài thế danh Võ Hóa, sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, Tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên và nhập chúng tu học với Hòa thượng Hoằng Phúc tại chùa Quang Lộc nên có pháp danh Chơn Húy, hiệu Khánh Anh, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn tính sẵn thông minh nên Ngài thông thuộc kinh, luật và trở thành giảng sư nổi tiếng năm 30 tuổi. Năm 1927, Ngài được mời vào Nam giảng pháp và lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, giảng dạy cho Tăng Ni cũng như cộng tác cho tạp chí Duy Tâm. Năm 1955, Ngài chứng minh cho Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1957, Ngài được suy cử làm Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Ngày 30 tháng Giêng năm Tân Sửu (1961), Ngài thị tịch với 45 năm cống hiến hết mình cho đạo và thọ 66 tuổi. Ngài trước tác rất nhiều kinh luận, trong đó nổi tiếng nhất là bộ Khánh Anh Văn Sao 3 tập rất có giá trị. Ngài có công đào tạo nhiều vị tăng tài cho Phật giáo Việt Nam như Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Hoàn Quan v.v.. Pháp tôn của Ngài là Hòa thượng Thanh Từ, người có nhiều công đức trong việc khôi phục Thiền tông Việt Nam trong thời hiện đại. [3, 303-307]

    • Hòa thượng Quảng Đức (1897-1963): Ngài thế danh Lâm Văn Tuất, sinh năm Đinh Dậu (1897) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi với Hòa thượng Hoằng Thâm nên có pháp danh Thị Thủy, tự Hành Pháp, hiệu Quảng Đức thuộc đời 42 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài có tâm nguyện vân du hoằng pháp, gặp nơi nào chùa tháp hư hoại thì Ngài dừng lại trùng tu, kiến tạo rồi lại lên đường. Đời Ngài đã trùng tu cả thảy 17 ngôi chùa và chùa Quan Thế Âm tại quận Phú Nhuận là nơi dừng chân cuối cùng của Ngài. Năm 1963, Phật giáo đồ miền Nam và Trung bị sự đàn áp của chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Trước sự đàn áp dã man đó, Ngài phát nguyện tự thiêu vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão (11/6/1963) để ngăn cản bạo quyền. Sự hy sinh cao cả của Ngài đã cứu nguy cho Phật giáo Việt nam thoát khỏi pháp nạn tàn khốc này. Với tâm nguyện ấy, trái tim của Ngài không bị thiêu hủy dưới sức nóng 4000 độ của lò thiêu. Ngài được Tăng Ni Phật tử cả nước tôn xưng là bậc Bồ tát hiện thế. [3, 335-342]

    • Hòa thượng Hành Trụ (1904-1984): Ngài thế danh Lê An, sinh năm 1904 tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài xuất gia với Tổ Thiền Phương tại chùa Phước Sơn nên có pháp danh Thị An, tự Hành Trụ, hiệu Phước Bình, thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Là người học Phật uyên bác nên Ngài sớm làm giáo thọ tại các chùa tỉnh Phú Yên. Ngài có công kiến tạo nhiều ngôi chùa tại Sài Gòn và làm giáo thọ các trường Phật học khắp miền Nam. Ngài nhiều lần được cung thỉnh làm Hòa thượng đàn đầu truyền trao giới pháp cho Tăng Ni. Trải qua các Giáo hội, Ngài đều được cung thỉnh vào Hội đồng trưởng lão chứng minh tiêu biểu cho giới luật. Ngài thị tịch tại chùa Đông hưng vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984) thọ 81 tuổi. Ngài trước tác rất nhiều kinh sách nhưng chủ yếu là luật học. [3, 710-714]

    Như vậy, tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam hiện tại dòng Chúc Thánh được truyền bá rất rộng rãi. Chư Tăng thuộc các tỉnh miền Trung vẫn trung thành với bài kệ truyền pháp của Tổ. Hiện nay, các ngôi Tổ đình xưa của dòng Chúc Thánh tại miền Nam như Tập Phước, Hội Khánh không còn truyền theo kệ của Tổ Minh Hải. Bởi lẽ, người miền Nam rất phóng khoáng, không câu nệ chấp chặt hệ phái. Điều này, cũng thật là đáng tiếc, vì nó làm mất đi truyền thống bao đời của chư Tổ. Có một điểm đặc biệt, khi truyền vào miền Nam trong giai đoạn đầu, ta thấy các Thiền sư chỉ truyền pháp danh chứ không có pháp tự. Ví dụ như Thiền sư Toàn Tánh có hiệu là Chánh Đắc, chứ không có pháp tự chữ Vi như các vị đồng hàng ở miền Trung. Cũng vậy, các vị Chơn Thanh hiệu Từ Văn, Chơn Phổ hiệu Nhẫn Tế cũng không có pháp tự chữ Đạo theo như bài kệ truyền pháp tự của Tổ sư Minh Hải.

    3.6 Tại hải ngoại:

    Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
    Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
    Mái chùa che chở hồn Dân tộc
    Nếp sống muôn đời của Tổ tông.

    Huyền Không

    Phật giáo và Dân tộc đồng hành, đây là một quy luật bất di bất dịch từ 2000 năm nay. Dân Việt đi đến đâu thì Phật Việt theo đến đó. Theo để mà an ủi vỗ về trong những lúc gian nan lận đận.

    Vào những thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một số lượng lớn người Việt ra nước ngoài định cư. Người Việt rời Tổ quốc ra đi với hàng nghìn lý do, nhưng Phật Việt ra hải ngoại chỉ một lý do duy nhất: hướng đạo tinh thần cho người Việt xa xứ và truyền bá giáo lý Phật Đà tại Tây phương. Tuy nhiên, cộng đồng người Việt chỉ tập trung chính ở các nước thuộc Châu Âu, Mỹ và Châu Úc.

    Theo dòng người định cư tại hải ngoại, con cháu của Tổ Minh Hải cũng đã có mặt khắp các châu lục để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cũng như ấp ủ chở che cho những người Việt lưu lạc.

    Ở Châu Âu, chùa Viên Giác tại Đức là đạo tràng lớn nhất truyền thừa theo dòng Chúc Thánh. Thượng tọa Thích Như Điển thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh sau 6 năm du học tại Nhật đã sang Đức vào năm 1978 để hoằng pháp. Sau 20 năm hành đạo, Thượng tọa đã đào tạo được một đội ngũ Tăng trẻ đủ khả năng gánh vác Phật sự tại các chi hội Phật giáo Châu Âu và Thượng tọa đã thành lập một hệ thống các chùa trực thuộc tông Lâm Tế Chúc Thánh như Viên Ý (Italy), Vạn Hạnh (Đan Mạch), Viên Âm, Tam Bảo (Đức), Niệm Phật đường Thảo Đường (Nga), Trung tâm tu học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng - Ấn Độ.

    Năm 1975, Hòa thượng Như Kế-Huyền Vi đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh cũng đã đến Pháp lập chùa Linh Sơn tại thủ đô Paris. Sau đó, Ngài sáng lập và làm Tăng Thống Giáo Hội Linh Sơn trên khắp các nước Châu Âu và Châu Mỹ.

    Cũng trong giai đoạn này, người Việt sang định cư tại Mỹ rất đông. Trong đó, số lượng Tăng sĩ thuộc các Thiền phái đều có mặt tại Mỹ để hoằng pháp. Trong tăng đoàn ấy, có Hòa thượng Chơn Điền, đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh sang bang Texas lập chùa Quan Âm; Hòa thượng Thông Đạt-Thanh An, đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh lập An Tường Tự Viện ở bang Oakland; Thượng tọa Hạnh Đạo, đời 42 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Phổ Đà tại bang California; Thượng tọa Đồng Điển-Thông Kinh đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Đông Hưng tại bang Virginia. Tất cả quý Ngài cũng không ngoài tâm nguyện phục vụ cho cộng đồng người Việt xa xứ.

    Tại Châu Úc, Hòa thượng Như Huệ, thuộc đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh từ Việt Nam sang lập chùa Pháp Hoa tại Nam Úc vào năm 1982, sau đó Hòa thượng lại tiếp tục khai sơn chùa Pháp Âm để Phật tử có nơi chiêm bái, tu tập. Cùng thời gian, Hòa thượng Đồng An-Bảo Lạc đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ tại Nhật Bản đã đến Úc lập chùa Pháp Bảo tại Sydney. Hòa thượng có công rất nhiều trong việc phiên dịch các kinh điển từ Hán sang Việt. Bên cạnh đó, Thượng tọa Như Mẫn-An Thiên, đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Nhật đã sang Úc cộng tác với Hòa thượng Bảo Lạc từ năm 1991. Đến năm 1996, thấy nhân duyên hội đủ nên Ngài ra lập chùa Minh Giác tại Cabramatta, Thượng tọa Như Định đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Thiên Ấn v.v…

    Như vậy, số lượng Tăng sĩ thuộc dòng Chúc Thánh sang hoằng pháp tại hải ngoại không phải là ít. Các Ngài bằng hết tâm lực của mình đã kiến tạo chùa chiền nơi xứ người. Tuy rằng những ngôi chùa Việt tại hải ngoại không có mái cong vút, khung cảnh không có thâm u như những ngôi chùa trong nước nhưng cũng đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình: che chở một phần hồn Dân tộc viễn xứ trong những mùa đông lạnh buốt.

    Chư Tăng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Tổ Đình Chúc Thánh - Hội An, Quảng Nam
    (ảnh PGĐC chụp năm 2004)

    C. KẾT LUẬN

    Chim bay không cầm bóng
    Nước trôi chẳng giữ màu
    Phất phơ vài lá trúc
    Như gió thoảng vườn sau!

    Từ xưa đến nay, chư vị Tổ sư như cánh nhạn lưng trời bay qua dòng sông đâu có ý niệm lưu hình giữ bóng. Với sự liễu triệt ý đạo thâm huyền, thấy rõ thực tướng các pháp nào có đến có đi thì các Ngài có gì để lưu lại. Tuy nhiên, đứng về mặt tục đế, người viết còn thấy các Ngài đã đến, đã hiện hữu, đã đi nên mạo muội ngược dòng lịch sử trở về quá khứ, phủi dần lớp bụi thời gian để tìm lại những vết chân xưa của các bậc cổ đức, từ đó hiểu rõ hơn công hạnh của tiền nhân. Trong quá trình “Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam”, chúng ta tạm có những nhận định như sau:

    • Thiền sư Minh Hải là vị Tổ đầu tiên truyền bá dòng Thiền Lâm Tế tại Quảng Nam. Bằng sự chứng ngộ của mình, Tổ sư Minh Hải đã xuất kệ truyền thừa, lập nên một Thiền phái lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Với tư tưởng “Đắc chánh luật vi tông”, Ngài đã đặt một nền tảng căn bản cho sự phát triển của tông môn. Nền tảng này là nguồn cội của tất cả các thiện pháp, Nhân thừa, Thiên thừa, Phật thừa do đây mà thành tựu. Trong bối cảnh đất Quảng Nam đang thiếu một bậc tôn sư hướng đạo, Tổ Minh Hải đã đến đúng lúc, đã đáp ứng được tâm nguyện của tín đồ quần chúng. Vì thế, hạt giống Bồ Đề Ngài gieo cách đây 300 năm giờ đã sum suê cành lá. Đồng thời, qua đây ta có thể kết luận rằng: Tổ sư Minh Hải không phải là đệ tử của Tổ Nguyên Thiều và Ngài cũng không phải là người khai sơn Tổ đình Thiên Ấn tại Quảng Ngãi.

    • Kể từ ngày Tổ sư Minh Hải chấn tích khai sơn, các đệ tử của Ngài đã kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Thầy Tổ nên môn phong Chúc Thánh nhanh chóng hình thành và phát triển. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền pháp tại Quảng Nam, khiến cho Phật giáo tại nơi đây sớm ổn định và phát triển rực rỡ. Các Tổ đình Chúc Thánh, Phước Lâm, Tam Thai v.v… trở thành những trung tâm hoằng pháp chính tại Quảng Nam. Từ những Tổ đình này, các vị Tổ sư dòng Chúc Thánh đã đào tạo nhiều thế hệ “Như Lai Sứ Giả” đem tư tưởng của Tổ cũng như Pháp kệ truyền bá rộng rãi từ đất Quảng vào đến các tỉnh miền Nam,

    • Sự phóng khoáng của tư tưởng Lâm Tế kết hợp với bản tính cương trực thực thà của người dân đất Quảng đã tạo nên một phong cách sống rất đặc thù của tu sĩ Quảng Nam: giản dị, gần gũi với tầng lớp bình dân lao động nhưng cương cường bất khuất trước những ai đi ngược với quyền lợi của Đạo pháp và Dân tộc. Do thấm nhuần tư tưởng “Phật pháp bất ly thế gian giác” và hiểu rõ mối tương quan khắng khít giữa Đạo pháp và Dân tộc, tăng sĩ Quảng Nam đã dấn thân vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập Tổ quốc, tự do cho Dân tộc và Đạo pháp, thể hiện được sứ mệnh “Hộ quốc an dân” của những người con Phật Việt.

    • Với chất giọng Quảng hòa âm cùng làn điệu dân gian, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã tạo nên một nghi lễ đặc thù của Phật giáo xứ Quảng. Các điệu hò niệm Phật, các khoa nghi Bạt độ vớt vong, chèo đò tống linh v.v…đã an ủi vỗ về những số phận bất hạnh trong niềm tin tôn giáo và đây cũng là phương tiện thiết thực đưa mọi người vào đạo để hướng tâm đến sự giải thoát an lạc. Tất cả những nét đặc thù của Phật giáo Quảng Nam được thể hiện qua sự tu tập, hành đạo của chư Tổ cũng như chư tôn Hòa thượng cận đại của dòng Chúc Thánh.

    • Theo bước chân Nam tiến của Dân tộc, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh có mặt tại các tỉnh thành trong cả nước để truyền bá giáo lý giải thoát của Phật Đà và ý chỉ Tổ sư. Tại mỗi địa phương đi đến, các Ngài đã đem hết khả năng của mình để giáo hóa và dần dần tạo nên chi phái khắp các mọi nơi. Tăng đồ của Thiền phái Chúc Thánh đóng vai trò quan trọng trong việc hoằng pháp tại các tỉnh thành từ Thừa Thiên-Huế đến Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Sài Gòn-Gia Định v.v….Ngày nay, theo bước chân người Việt xa xứ, Tăng nhân Chúc Thánh có mặt khắp các Châu Lục để làm tròn sứ mệnh “Che chở hồn Dân tộc” của mình, góp phần đem ánh sáng Chánh pháp cũng như giới thiệu 2000 năm lịch sử thăng trầm truyền bá Phật giáo Việt Nam đến với các nước phương Tây.

    • Trải qua 300 năm hình thành và phát triển, Tăng đồ của Thiền phái Chúc Thánh góp phần rất lớn trong sự nghiệp truyền bá chánh pháp tại nước nhà. Các Thiền sư Thiệt Dinh, Pháp Liêm, Pháp Chuyên, Toàn Nhật, Vĩnh Gia, Từ Trí v.v…đều là những bậc Cao Tăng có sự ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Việt Nam qua các thời đại. Mỗi vị có một hạnh nguyện riêng biệt để hoằng pháp độ sanh: Ngài Pháp Liêm-Luật Oai với hạnh nguyện Bồ Tát ròng rã 20 năm quét chợ không quản nắng mưa, Ngài Pháp Chuyên-Luật Truyền, Ngài Toàn Nhật- Vi Bảo với trí tuệ siêu việt đã trước tác nhiều tác phẩm Phật học có giá trị lưu lại hậu thế, Ngài Ấn Bổn - Vĩnh Gia có công rất lớn trong việc đào tạo Tăng tài thời cận đại v.v… tất cả đã viết nên trang lịch sử vàng son cho môn phái. Đặc biệt, ngọn lửa “Đại Hùng Lực, Đại Từ bi” của Ngài Thị Thủy-Quảng Đức năm 1963 đã góp phần không nhỏ trong việc đưa Phật giáo và Dân tộc thoát khỏi một thời kỳ độc tài hà khắc. Ngọn lửa thiêng ấy chính là đỉnh cao, là kết tinh của tinh thần phụng sự Đạo pháp và Dân tộc của tăng nhân dòng Chúc Thánh.

    Hiện tại, chư Tăng dòng Lâm Tế Chúc Thánh chiếm một lượng lớn và đóng góp không nhỏ trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Với một bề dày truyền thừa, phát triển và có những đóng góp lớn lao như thế, nhưng các nhà viết sử Phật giáo Việt Nam lại lãng quên thì thật là thiếu sót. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử dòng Lâm Tế Chúc Thánh, người viết gặp rất nhiều trở ngại về nguồn tư liệu nghiên cứu. Từ đây, người viết mới phần nào hiểu được sự khó khăn của các nhà làm sử Phật giáo khi đề cập đến sự truyền thừa của Thiền phái Chúc Thánh. Tuy nhiên, không phải vì sự khó khăn trong vấn đề tư liệu mà chúng ta bỏ cuộc, cứ để lịch sử mãi trôi dần về quá khứ và bị phong kín bởi cánh cửa thời gian.

    Ngày nay, dòng Lâm Tế Chúc Thánh đã truyền xuống đến đời 44, 45, 46 nghĩa là đã xuống đến chữ Chúc, chữ Thánh, chữ Thọ hoặc chữ Vạn, chữ Hữu, chữ Duy (theo bài kệ tại Bình Định). Điều này là một minh chứng cụ thể cho sự phát triển của môn phái Chúc Thánh. Mỗi khi truyền xuống một đời là báo hiệu cho sự cách biệt một khoảng thời gian giữa các thế hệ. Vì thế, qua đây người viết tha thiết mong rằng chư vị tôn túc trong môn phái nên có một chương trình cụ thể viết về lịch sử truyền bá của Thiền phái Chúc Thánh để các thế hệ hậu bối sau này được tường tận và nối tiếp truyền thống tông môn. Như lời các bậc cổ đức có nói: “Vô cổ bất thành kim”, không có xưa thì không có nay, nếu không hiểu tường tận quá khứ của cha ông thì tương lai con cháu sẽ không có một định hướng rõ ràng cho sự phát triển của mình.

    Trong quá trình thực hiện đề tài, con đã được chư vị tôn túc trong và ngoài môn phái thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Sài Gòn tận tình chỉ dạy, góp ý, cung cấp tư liệu để bản luận văn sớm được hoàn thành. Qua đây, con xin dâng lời tri ân đối với những tình cảm nồng nàn chân thiết của chư vị tôn túc. Tuy nhiên, với thời gian có hạn, kiến thức còn hạn hẹp và kinh nghiệm khảo cứu còn non yếu nên người viết không làm sao tránh khỏi những sai sót, mong rằng chư vị Tôn Túc cũng như các bậc thiện hữu tri thức hoan hỷ chỉ dạy để trong tương lai chúng con đi sâu nghiên cứu vấn đề này được tường tận và chuẩn xác hơn.

    Thích Giải Nghiêm (Theo PhatGiaoDaiChung)


     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



    Những bản tin khác:



    Lên đầu trang
     Đăng nhập/Đăng ký 
    Bí danh
    Mật khẩu
    Ghi nhớ

      XEM PHỔ QUANG TRÊN 


     Những Bản Tin Mới 
    Cuộc đời là những mâu thuẫn
    Hạt Quinoa: Thực phẩm cần thiết cho người ăn chay
    Chái tây
    Khôi phục Đại Bảo tháp tại huyện Khammam, Andhra Pradesh
    Chư ni xây dựng tu viện làm bằng rơm
    Trường Phật giáo chuyển sang thời đại kỹ thuật số
    Chuyện hai người quét rác
    Trai Đàn Chẩn Tế San Jose ngày 3 tháng 10 năm 2015
    LỄ HỘI TẾT TRUNG THU 2013 - 4:00 PM THỨ BẢY NGÀY 21 THÁNG 9 NĂM 2013 TẠI CHÙA PHỔ QUANG
    THƯ MỜI THAM DỰ ĐẠI LỄ VU LAN P.L. 2557 TẠI CHÙA PHỔ QUANG (THỨ BẢY 17/8/2013)
    THƯ MỜI THAM DỰ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2557 TẠI CHÙA PHỔ QUANG (01.06.2013)
    Phật tử Chùa Phổ Quang Thành Kính Phân Ưu đến gia đình Cụ Bà Diệu Nguyện PHAN THỊ MIỀU
    Thẩm cung HT Thích Trí Lãng, Viện Chủ Đạo Tràng Pháp Hoa San Jose, Cali; Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện GHPGVNTNHN-HK
    Thẩm cung Sư Cô Thích Nữ Kiến Tâm, Thư Ký Đạo Tràng Pháp Hoa Chùa Thích Ca Đa Bảo, San Jose và Reseda, California
    Thư Mời Tham Dự Lễ Kỷ Niệm Phật Thành Đạo và Liên Hoan Tất Niên
    Thẩm cung Thượng Tọa Thích Giác Đẳng, Tổng Thư Ký Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
    Thẩm cung Hòa Thượng Thích Viên Lý, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ
    Thẩm cung Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, Chủ Tịch Văn Phòng II VHĐ GHPGVNTNHN-HK

     Tin Trên Diễn Đàn 
    [ Dien dan ]   [ Tim kiem ]


    Mọi ý kiến xây dựng, đóng góp hoặc gửi tin tức, bài vở xin liên lạc: • e-mail: banbientap@phoquang.org
    Hỗ trợ kỷ thuật xin liên lạc • e-mail: webmaster@phoquang.org